Chương 1:
Tập 1: Bò béo bò gầy
Thuở ấy, vào thời kỳ vua Lê, chúa Trịnh, đất nước còn nhiều biến động, loạn lạc. Có hai vợ chồng một người nho sinh họ Lê, sau bao năm bôn ba kiếm sống nơi đất khách quê người, nay đã tích góp được một khoản tiền bạc kha khá. Họ định mang số tiền ấy về quê quán trong thành, dựng nghiệp sinh nhai cho kỳ yên ổn.
Hôm ấy là ngày cuối năm, tiết trời đã se lạnh. Hai vợ chồng dắt díu nhau về qua bến đò Khuốt, đi vào giữa làng Đa-Giá Thượng. Vừa đến nơi thì trời đã xế chiều, mưa phùn lất phất bay, gió rét cắt da cắt thịt. Thấy cảnh tượng ảm đạm, người chồng quyết định nghỉ lại tại một cái quán nhỏ ven đường.
Làng Đa-Giá Thượng bấy giờ, bề ngoài vẫn xem là những kẻ làm ăn lương thiện, đối với vua quan hay các làng lân cận đều không có gì khác lạ. Nhưng bên trong, nơi đây lại là ổ của một bè lũ gian phi khét tiếng, chuyên nghề cướp của giết người. Khách bộ hành đi qua đây thường phải nghỉ lại, vì chỉ ở đây mới có dân cư quán xá, lại có chỗ ăn chỗ trọ tươm tất. Thế nhưng, cái giá của sự tiện nghi ấy rất đắt. phàm thị những khách nào tay nải nặng, hoặc cô đơn lẻ loi, thì đêm đến sẽ bị kẻ xấu kéo lên núi, xô xuống một cái hang sâu và kín gần Kẽm Trống. Sau đó, những món đồ cướp được sẽ tùy theo công lao mà chia nhau giữa mọi huynh thứ trong làng. Chúng giữ việc này rất kín. Có những tiếng lóng thay cho tiếng nói thường, và từ bao lâu, hang núi thiên tạo đó đã trở thành mồ chung của biết bao mạng người vô tội, oan khuất.
Khi hai vợ chồng bước vào quán, bà hàng chạy ra đỡ chiếc thúng khảo trên tay người đàn bà, nở một nụ cười giả tạo:
- Ông bà đến vừa đúng dịp! Hôm nay lại đang sẵn rượu ngon và nhắm tốt.
Trời mùa đông, tối sầm lại nhanh, ăn xong thì không còn trông rõ mặt người. Nhà hàng dọn sẵn giường chiếu để cho họ nghỉ. Nhưng khi những cánh liếp vừa hạ xuống được một chốc, thì ở ngoài đường có tiếng hỏi vọng vào, giọng thô kệch:
- Nhà hàng mai cho chúng tôi mượn bò với nhé?
- Có!
- Bò béo bò gầy?
- Bò béo.
Bà chú quán thản nhiên trả lời rồi dọn dẹp đi nơi khác. Hai vợ chồng yên tâm trèo lên giường, bỏ cái tay nải ra gối đầu, và rồi họ ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Những chén rượu kia đã bị pha thuốc mê, khiến anh chàng nho sinh mơ màng, chẳng còn biết gì trời đất.
Đêm ấy, vào khoảng canh hai, trong quán đã có mấy tên lực lưỡng lẻn vào từ lúc nào. Người nho sinh họ Lê vẫn còn mê man trong giấc mộng. Nhưng người vợ thì vẫn tỉnh táo. Bọn cướp xông lại, ấn giẻ vào miệng người chồng và lôi đi xềnh xệch. Người vợ toan la lên thì tên cướp thứ hai đã giơ lưỡi dao sáng loáng trước mặt. Thấy hắn sắp động vào người, nàng quỳ xuống, nước mắt ròng ròng lầm bẩm:
- Thiếp cắn rơm cắn cỏ lạy ông. Ông tha cho, thiếp xin nhớ ơn trọn đời.
Ngọn đuốc khua vào mặt nàng. Nàng còn trẻ và rất xinh đẹp. Tên cướp bỗng thấy động lòng trắc ẩn, hoặc có thể là cái vẻ đẹp làm hắn xao xuyến. Hắn giục:
- Thế thì đi. Nhưng khôn hồn hãy ngậm mồm lại. Hễ kêu lên thì cho chết!
Thế rồi, trong lúc đi đường, tên cướp nghĩ ra được một kế. Hắn muốn được chung chăn gối với người đàn bà có cặp mắt rất xinh kia. Hắn sẽ gửi nàng ở nhà một người thủ hạ tin cẩn, nhờ giấu kín cho, rồi khi về chỉ đưa đôi hoa tai ra trình mọi người là ổn.
Từ đó, tên cướp thường lui tới chỗ ở của người vợ mới, không cheo cưới của hắn. Thỉnh thoảng hắn biếu nàng một bộ xà tích hay mấy vuông lụa. Nàng không phải lo gì đến cái ăn cái mặc, đã có người hầu hạ chu tất. Nhưng nhất thiết nàng không được bước ra khỏi buồng, luôn luôn cửa đóng kín mít. Người đàn bà ấy đành nhắm mắt tuân theo như một kẻ không hồn, nuốt những giọt nước mắt, cố gắng vui vẻ đón tiếp kẻ thù của mình để hắn thí cho chút sống thừa.
Tuy nhiên, chỉ được năm tháng, thì việc tên cướp giấu nàng ở đây bị bại lộ. Ba ngày trước, xã trưởng rỉ tai bảo hắn:
- Nếu anh không hạ thủ ngay thì đã có những người khác cho anh xuống hang cùng với con mụ ấy.
Lệ làng đã đặt ra, ai nấy đều phải tuân theo răm rắp. Tất nhiên hắn không thể phá lệ làng. Đêm ấy cơm xong, hắn đưa nàng lên núi. Hơn cả lần trước, lần này nàng van lạy hắn rất thảm thiết. Nhưng bây giờ trái tim hắn đã chai sạn, không còn lay chuyển. Hắn lạnh lùng bảo:
- Ta làm phúc cho nàng xuống suối vàng với chồng cho có bạn!
Khi sắp đến miệng hang, người đàn bà bỗng nhiên bỏ chạy. Nhưng hắn đã đuổi theo và bắt được ngay. Đúng vào lúc hắn đẩy nàng xuống hang, thì không ngờ nàng cũng níu chặt lấy áo hắn. Cả hai người cùng lăn tòm vào vực sâu. May mắn làm sao, nàng lại nhanh tay thả hắn ra và bám được vào một nhánh cây mọc chìa ra ở lưng chừng. Thế rồi, người đàn bà ấy lần mò rất khó nhọc, cuối cùng leo lên được khỏi miệng hang. Và nàng cứ nhắm hướng Bắc, đi luôn một mạch, không ngoảnh đầu lại.
Nói chuyện ngày hôm sau, xa giá Chúa đi qua cửa Đại-Hưng. Khi đội tiền vệ vừa qua cầu thì vợ của chàng nho sinh họ Lê xấu số từ dưới gầm cầu chạy vụt lên, quỳ ngay giữa đường cái. Đầu nàng đội một lá đơn trắng. Bị quân lính xua đuổi, nàng không chịu lùi, chỉ sửa lại vành khăn trắng, kiên quyết bảo họ:
- Lạy các bác, tiện thiếp oan ức tày trời, xin cho gặp chúa thượng!
Thấy có tiếng ồn ào đằng trước, chúa sai dừng kiệu, cho đòi khổ chủ đến hỏi chuyện. Nghe người đàn bà kể xong, chúa lập tức rút bảo kiếm, sai viên thám tướng mang ngay 2.000 quân mã đi gấp ngày đêm vào Đa-Giá Thượng với lệnh "tiền trảm hậu tấu".
Thế rồi, sau đó hai ngày, có một thầy lang bán thuốc, vai đeo cái tay nải đỏ nặng trĩu đi qua đò Khuốt rồi tiến vào làng. Chưa vào quán, khách đã trao tay nải cho bà hàng và giục rượu inh ỏi. Chỉ một chốc khách đã say mềm, không còn nghe gì những tiếng trao đổi "bò béo bò gầy" giữa chủ quán với người ngoài cổng. Chưa đến lúc đi ngủ, khách đã bị trói giật cánh khỉ và điệu lên hang.
Nhưng lần này, vừa sắp đến hang thì một tiếng hô vang làm cho bọn cướp giật nảy mình. Từ bụi rậm xông ra một toán lính với mã tấu sáng lòe, cởi trói cho khách và trói lũ sát nhân lại. Rồi từ bốn phía chân núi, bốn phía làng, tiếng reo hò, tiếng trống, tiếng mõ vang trời động đất của hai ngàn quân sĩ ùa vào.
Ngay hôm sau, làng Đa-Giá Thượng bị triệt hạ. Nhà cửa, tre phe, cây cối đều bị san phẳng. Đất đai và ruộng được phân phát cho cả tỉnh: mỗi làng được một mảnh ruộng con, ngày nay vẫn còn gọi là ruộng Kỳ-Tại. Bọn cướp hết thảy bị tử hình: đàn ông đều chém ngang lưng, đàn bà một hạng bỏ rọ trôi sông, một hạng sung làm thị tỳ ở các nhà quan.
Người ta có bắt được một quyển sổ ghi từng năm, ghi rõ bao nhiêu "bò béo", bao nhiêu "bò gầy", bao nhiêu vàng bạc, bao nhiêu tiền và vật phẩm. Một số quân sĩ được lệnh đẵn tre làm thang xuống hang, rồi thòng dây xúc hài cốt của những người vô tội lên thiêu hóa.
Cũng có một bản khảo dị khác trong *Sơn cư tạp thuật* kể rằng: Một hôm, một người con hát, có người vợ rất đẹp, qua làng Đa-Giá vào trọ ở quán lý trưởng. Lý trưởng là một tên dâm ác, đêm đến hắn nhận mệnh lệnh của đồng lõa, bắt người chồng đẩy xuống hang rồi giấu người vợ lại một nơi cho mình thỏa dục. Sau đó, việc tiết lộ, bị đồng lõa bắt phải giết người đàn bà kia. Khi hắn đẩy người đàn bà thì hắn bị người ấy kéo luôn xuống hang và chết cả hai. Người vợ lý trưởng thấy chồng không về, hối hận, bèn đi cáo quan. Việc bại lộ có phần giống như truyện trên vừa kể.
Theo lời kể của người Ninh Bình và báo *Tiểu thuyết chủ nhật*, câu chuyện này như một lời cảnh tỉnh về sự giả dối và hiểm độc, cũng như sự công lý chậm chễ nhưng không bao giờ vắng mặt.