Chương 1:
Tập 1: Lọ nước thần - Ai mua hành tôi
Ngày xửa ngày xưa, tại một làng quê thanh bình, có một anh thanh niên khỏe mạnh, da trắng tóc đen, sống bằng nghề cày cuốc vất vả. Anh chưa có vợ, cuộc sống tuy nghèo khó nhưng vẫn yên vui.
Một buổi sáng tinh mơ, anh mang búa lên rừng đốn củi. Trong lúc đang lúi húi chặt những thân gỗ khô, anh bỗng nghe thấy tiếng động lạ. Ngẩng đầu nhìn lên, anh thấy một con quạ đen kịt tha một con chim sẻ nhỏ bé đậu xuống một phiến đá gần đó. Con quạ há mỏ ra, định nuốt chửng chú chim non yếu ớt.
Trông thấy cảnh tượng ấy, trái tim hào hiệp của anh bỗng cồn cào thương cảm. Không chút do dự, anh nhặt một hòn đá chắc nịch, nhắm thẳng vào con quạ mà ném.
"Bạt!"
Viên đá trúng đích, con quạ giật mình, bỏ mồi lại, vỗ cánh kêu chít chít bay vút lên trời. Tức giận vì hỏng bữa ăn, con quạ bay lượn trên cao, vừa bay vừa chửi rủa om sòm, lời lẽ thô lỗ, đe dọa sẽ báo thù.
Anh chàng chẳng sợ, lại ném thêm vài hòn đá nữa, vừa ném vừa quát:
- Đồ ác điểu! Cút ngay khỏi đây!
Con quawe hậm hực bay đi, để lại chú chim sẻ nằm thoi thóp trên mặt đá. Anh nhanh chóng chạy lại, nâng niu chú chim bé nhỏ, cố tình thổi hơi ấm và ấp ủ để hồi sinh sự sống. Ít phút sau, kỳ diệu thay, chú chim sẻ mở mắt, mổ nhẹ vào tay anh như lời cảm tạ, rồi bay vút lên cao.
Trước khi bay đi, chú chim sẻ quay lại, miệng ngậm một chiếc lọ nhỏ xinh, đặt nhẹ xuống bên cạnh người thợ mộc rồi nói:
- Ta cảm ơn lòng tốt của ngươi. Đây là lọ nước thần, có phép màu vô cùng: người già uống vào sẽ trẻ lại, vật nhỏ uống vào sẽ lớn phổng lên. Đây là vật hiếm có, trần gian khó tìm.
Nói xong, chú chim vỗ cánh bay mất tích.
Anh chàng ngồi tần ngần, tò mò mở nút lọ ra. Bên trong là một thứ nước trong vắt, tỏa ra mùi thơm ngát, thoang thoảng hương hoa dại. Anh bèn nghĩ bụng:
- Thứ quý giá này chắc chỉ dành riêng cho các bà quan, các cô nương mới dùng, chứ hạng dân nghèo như chúng ta thì sao dám mơ ước.
Anh cẩn thận đậy nút lọ lại, khi gánh củi về nhà, anh treo chiếc lọ trên chiếc kèo cao nhất của gian nhà tranh, rồi quên bẵng đi chuyện đó.
Thời gian trôi qua, cuộc sống vẫn tiếp diễn. Ít năm sau, anh chàng đã lớn lên đủ sức khỏe để tìm vợ. Cuối cùng, anh cũng cưới được một người phụ nữ hiền lành, con nhà nông. Cô vợ chân lấm tay bùn, quanh năm vất vả nên làn da ngăm đen, dung mạo bình dị, không xinh đẹp nổi bật. Thế nhưng, hai vợ chồng rất mực yêu thương, kính trọng nhau, sống hạnh phúc bên nhau.
Một ngày nọ, chồng đi cày đồng vắng nhà. Người vợ ở nhà quét dọn, sửa sang. Khi quét xong, chị ngước mắt nhìn lên mái nhà, chợt thấy chiếc lọ nhỏ treo trên kèo. Chị bèn bắc chiếc ghế gỗ lên, với tay lấy xuống.
Thấy chai nhỏ xinh, mùi thơm thoang thoảng, chị tưởng đó là dầu thơm gội đầu quý giá của người ta để quên. Lát sau, chị nấu nước tắm gội, tiện tay mở nắp lọ, đổ một ít nước thơm ra bôi khắp tóc tai, mặt mũi và thân thể.
Thật kỳ diệu! Ngay sau khi lớp nước thần thấm vào da thịt, vóc dáng chị bỗng thay đổi. Làn da trắng mịn như trứng gà bóc, tóc đen mượt buông xõa, nhan sắc mỹ miều, rực rỡ như thiên thần giáng hạ. Ít ai trên cõi đời này có được vẻ đẹp ấy.
Vài giọt nước thần rơi xuống luống hành bên cạnh giếng. Những cây hành vốn nhỏ bé, giờ đây tự nhiên lớn lên phi thường. Củ hành phổng to bằng chiếc bình vôi lớn, thân lá vươn dài bằng cả một đòn gánh.
Chốc sau, người chồng trở về, nhìn thấy vợ, anh ngẩn người, kinh ngạc đến mức không tin vào mắt mình. Nếu không nghe tiếng nói quen thuộc, anh tưởng là tiên nữ sa xuống cõi trần. Nghe vợ kể lại chuyện tìm thấy lọ nước, anh sực nhớ đến lời báo đền của con chim sẻ ba năm về trước. Nỗi mừng thầm, anh ngắm nhìn vợ mãi không chán, rồi kể lại câu chuyện kỳ lạ đó cho vợ nghe.
Kể từ ngày đó, anh chàng càng thêm si tình, quấn quýt lấy vợ không rời. Công việc đồng áng trở nên bặt tăm, mười phần chỉ làm được có hai. Nhưng cứ ở nhà mãi thì gia cảnh sẽ túng thiếu, anh đành phải ra đồng. Để khỏi nhớ vợ, anh thuê một người thợ vẽ chân dung vợ, treo bức tranh đó ở bờ ruộng mỗi khi đi làm việc, chỉ để nhìn cho thỏa nỗi nhớ.
Một hôm, khi anh đang chăm chỉ cày ruộng, thì bất ngờ từ đâu, con quạ năm xưa sà xuống. Nó quắp lấy bức tranh treo trên cọc, bay vút lên cao. Anh chàng hò hét đuổi theo, nhưng con quạ đã bay rất xa, chỉ một thoáng đã mất hút vào tầng mây.
Con quạ đã báo thù việc bị ném đá ngày xưa. Nó bay thẳng đến tận kinh thành, thả bức tranh xuống sân rồng. Bọn lính thị vệ thấy sự kỳ lạ, bèn nhặt lên, dâng trình cho nhà vua.
Vua cầm lấy bức tranh, ngắm nghía mãi không chán. Trong lòng vua thầm nghĩ:
"Trong ba cung sáu viện của trẫm đã có không ít người đẹp, nhưng chưa có ai sánh bằng người phụ nữ trong tranh này. Hẳn là trời sai con quạ đến mách bảo trẫm đây!"
Lập tức, vua hạ lệnh cho một quan đại thần cùng một trăm thị vệ phải tìm cho được người phụ nữ trong tranh mang về cung. Quan đại thần vâng lệnh, cho người đi khắp các hang cùng ngõ hẻm, các vùng quê xa xôi. Để việc tìm kiếm có hiệu quả, chúng bày ra trò mở hội ở nhiều nơi, dụ dân chúng đổ về xem. Mỗi lần thấy dân tập hợp đông đúc, chúng đưa bức tranh ra, giả tảng nói là tình cờ bắt được, ai mất thì đến nhận lại.
Một hôm, đoàn người đi tìm ấy đến đúng vùng quê nơi hai vợ chồng anh chàng đang sinh sống, cũng bày trò mở hội ba ngày ba đêm. Quả nhiên, anh chàng đã sa vào mưu kế. Khi nhìn thấy bức tranh của chính mình, anh không đắn đo gì cả, lật đật bước tới nhận.
Nhưng anh không ngờ, bọn lính đã chộp lấy anh như chộp một con mồi. Chúng theo anh về nhà và tìm thấy ngay người phụ nữ xinh đẹp trong tranh. Mừng rỡ quá, chúng vội vàng khiêng kiệu rước người đẹp về kinh đô, mặc kệ cho người chồng vật mình, than khóc thảm thiết.
Sau khi bị bắt vào cung, người vợ không cười, không nói. Áo đẹp không mặc, tóc không chải, và nghiêm cấm không cho bất kỳ ai đến gần. Dù đã mang được người đẹp về cung, nhà vua hết sức mừng rỡ, nhưng cũng hết sức buồn phiền vì mọi cách dỗ dành, khen ngợi, thậm chí dọa nạt đều không thể làm cho "người ngọc" nở một nụ cười.
Nhà vua bèn hạ lệnh rao khắp dân chúng: "Hễ ai có cách gì làm cho nàng cười hoặc nói được một lời, sẽ được ban thưởng quan cao lộc hậu."
Nghe tin này, nhiều người từ các vai hề nổi tiếng, những ông trạng cười cho đến các bậc lương y, pháp sư, phù thủy đua nhau trẩy kinh, hy vọng dùng tài phép làm cho người đàn bà phải buột miệng cười nói để mong ân thưởng. Nhưng dù đã giở đủ mọi trò, từ múa hát đến thuật giả kim, tất cả đều vô hiệu.
Lại nói chuyện người chồng. Từ khi vợ bị quan quân bắt đi, anh không còn thiết làm ăn gì nữa. Khi nghe tin nhà vua ban thưởng cho ai làm cho người đẹp trong cung nói cười được, anh biết chắc vợ mình đang ở trong cung vua, bèn quyết tâm vào kinh tìm vợ.
Trước khi lên đường, anh nhổ mấy củ hành khổng lồ ở cạnh giếng, buộc lại thành một gánh, quảy theo. Đến kinh đô, anh quảy gánh hành đi lại trước cửa hoàng cung, rao to những câu:
- Dọc bằng đòn gánh,
- Củ bằng bình vôi,
- Ai mua hành tôi?
- Thì thương tôi với!
Tiếng rao của anh vọng vào cung, ngày càng lớn dần. Nét mặt của người vợ tự nhiên mỗi lúc mỗi tươi tỉnh. Cuối cùng, nàng quay lại bảo thị nữ:
- Hãy gọi người hàng hành vào cho ta!
Khi nhìn thấy mặt chồng, người vợ cười lên một tiếng vui mừng. Thấy người đàn bà lần đầu tiên cười nói, vua sung sướng như "mở cờ trong bụng". Lại thấy những cây hành to lớn lạ thường, nhà vua lấy làm kinh ngạc. Vua ngỡ là nhờ những cây hành kỳ lạ này mà người đẹp mới nói cười được.
Vua liền nảy ra ý nghĩ muốn tự mình cải trang, gánh hành để làm vui lòng người đẹp. Vua bảo anh chồng:
- Hãy đặt gánh hành lại đó và cởi áo ra mau!
Vua cởi áo long bào quý giá vứt cho anh, mặc vào người chiếc áo vải thô của anh. Vua còn bắt anh phải học thuộc lòng câu rao, rồi tự mình quảy gánh đi lại trước mặt người đàn bà, cất tiếng rao mới học được.
Thấy chồng mình vui vẻ, người vợ hàng hành cười nghinh nghểu, vẻ mặt rạng rỡ. Vua thấy vậy càng thích thú, càng cố gắng làm già.
Nhưng đột nhiên, người vợ ra hiệu cho thị nữ thả bầy chó trong cung ra. Mấy con chó thấy "người lạ" (thực ra là vua) có dáng vẻ khác thường, liền nhảy xổ tới cắn chết ngay tại chỗ.
Người vợ vội vàng bảo chồng:
- Mình hãy mau mau trèo lên ngai vàng đi!
Anh chồng lật đật trèo lên ngai vàng. Giữa lúc trăm quan và cung nữ đang rập đầu bái mạng, họ kinh ngạc nhìn thấy vị vua mới.
Từ đó, anh chồng trở thành vua, sống hạnh phúc bên vợ trọn đời, và đất nước yên bình, no ấm.