Chương 1:
Tập 1: Nợ như chúa chổm
Dưới đây là bản kể lại truyện "Nợ như chúa Chổm" được biên tập lại cho phù hợp với giọng văn audio cổ tích, giàu nhạc tính và giữ trọn vẹn cốt truyện gốc.
***
Thuở xa xưa, vào thời kỳ cuối triều Lê, đất nước Đại Việt chìm trong bóng tối của sự tranh quyền đoạt vị. Trong triều có một vị quan lớn tên là Mạc Đăng Dung, vốn là người có dã tâm, luôn nuôi chí cướp ngôi báu của nhà vua. Nhà Lê đương triều đã sớm biết được âm mưu ấy, nhưng thế lực của Mạc quá hùng mạnh. Ông này nắm giữ binh quyền, bè đảng khắp kinh thành, thế như chẻ tre. Nhà vua nhận thấy mình bất lực, không thể đối đầu, bèn nghĩ kế cất tiếng lẻn trốn khỏi hoàng cung.
Thế nhưng, trời đen đất tối, mưu sự tại người. Nhà vua chưa kịp đi xa thì đã bị tay chân của Mạc Đăng Dung phát hiện. Ông bị bắt sống, đưa về kinh thành và giam lỏng trong một trại giam bí mật.
Hồi ấy, trong trại giam ấy, thường có một cô gái nghèo bán rượu. Nàng vẫn thường gánh những chum rượu thơm lừng vào bán cho các lính canh ngục. Một hôm, cô gánh rượu vào, vừa bước qua ngưỡng cửa, ánh mắt nàng bỗng dừng lại. Tại một phòng giam riêng biệt, giam lỏng một vị phạm nhân mới. Người đó mặt mũi khôi ngô, đường bệ, khác hẳn với những tù nhân thường ngày.
Vừa hay, cô hàng rượu đã nghe phong thanh, biết được người đang bị giam kia chính là nhà vua. Trong lòng nàng dấy lên một ý nghĩ thầm kín: muốn được làm quen, được ở gần người đàn ông kỳ lạ ấy. Từ đó, mỗi lần bán rượu cho bọn ngục tốt, nàng đều khéo léo rót những chén rượu ngon nhất dâng lên cho nhà vua.
Tuần trăng qua tháng gió, mối tình giữa cô hàng rượu và nhà tù nhân dần nảy nở. Một hôm, cô hàng rượu cất một mẻ rượu rất ngon, đặc biệt nàng đã bí mật pha thêm chút thuốc mê. Nàng mang rượu đến chuốc cho quân canh. Chờ cho bọn chúng nằm gục xuống, say khướt không biết gì, nàng mới lẻn vào phòng giam, tình tự với nhà vua.
Từ mối duyên ấy, cô hàng rượu có mang. Nhà vua ý thức rõ mình là người cầm quyền bị giam cầm, khó lòng thoát khỏi bàn tay tàn bạo của họ Mạc. Trước lúc lâm chung, ông bèn giao lại một vật trân quý cho nàng, đó là ấn ngọc rồng vàng, và căn dặn:
– Nàng hãy giữ vật này làm tin. Nếu sau này sinh được con trai, đó chính là dòng máu chính thống, sẽ có ngày nó phục thù cho cha.
Quả nhiên, không bao lâu sau, nhà vua bị họ Mạc ra lệnh sát hại ngay trong ngục tối. Tất cả hoàng hậu, phi tần, thái tử, công chúa đều chịu chung số phận bi thảm. Việc trừ diệt xong, Mạc Đăng Dung tự xưng vua, lập nên triều Mạc, chiếm lấy ngai vàng nước Đại Việt.
Tin dữ truyền đến tai cô hàng rượu, nàng như mất hồn. Sợ hãi cho số phận con thơ, nàng lặng lẽ trốn đi nơi khác, lẩn lút làm thuê, làm mướn, sống cuộc đời trôi nổi.
Đủ ngày đủ tháng, nàng sinh hạ một người con trai kháu khỉnh, đặt tên là Chổm. Lớn lên, Chổm được mẹ gửi vào chùa ở với sư cụ Thạch Toàn để học kinh kệ. Chổm vốn thông minh, sáng dạ, nhưng tính tình lại nghịch ngợm, tinh nghịch chẳng ai bằng.
Một hôm, đi chơi về, bụng Chổm đói meo. Anh thấy trước tượng Mụ Thiện có bày một mâm bồng đầy chuối và quýt thơm. Chổm rón rén đến bệ thờ, lấy tay bịt mắt tượng Mụ Thiện lại, rồi bẻ chuối ăn ngon lành. Bất chợt, sư cụ từ đâu quay vào, trông thấy thế, nổi giận nịch cổ Chổm đánh cho một trận.
Chổm tức giận lắm. Chờ lúc sư cụ vắng mặt, anh lấy giấy viết vài dòng: "Mười tay mười mắt không giúp được gì cho ta. Thật là vô ích. Phải đày đi phương xa." tả hoàn, anh dán tờ giấy đó vào ngực tượng Mụ Thiện.
Đêm đó, sư cụ mộng thấy Mụ Thiện hiện về, trách móc rằng:
– Nhà vua đói nên mới ăn, sao lại đánh ngài để ngài đuổi ta đi? Phải mau mau tìm cách xin lỗi ngài, để ngài tha cho ta.
Sư cụ tỉnh dậy, rất đỗi phân vân, bèn gọi chú tiểu Chổm vào, kể lại giấc mộng, rồi bảo bóc tờ giấy ra xem. Sư cụ hỏi:
– Cha mày đâu?
Chổm đáp, giọng vẫn còn ngổ ngáo:
– Tôi lớn lên chưa từng nghe nói có cha.
Sau đó, Chổm trở về nhà, hỏi mẹ:
– Cha con đâu?
Mẹ sợ sệt, không dám nói sự thật, bèn đáp:
– Cha con là họ Lê, bị hổ ăn thịt chết rồi.
Nghe tin cha bị hổ dữ ăn thịt, Chổm buồn tủi, nhưng trong lòng anh lại bùng lên ý chí: từ hôm đó, anh lập tâm giết hổ để báo thù cho cha.
Một hôm, Chổm vào rừng chơi, thấy một con hổ đang ngủ dưới gốc cây. Anh rón rén, cầm một hòn đá lớn ném mạnh vào đầu hổ. "Bùm!" Hổ vỡ óc, chết tươi. Đang khi Chổm vui mừng, nắm đuôi hổ lôi về thì bỗng một con hổ khác từ trong bụi rậm xông ra, mắt đỏ ngầu. Chổm sợ hãi, quẳng xác hổ, cắm đầu chạy tán loạn.
Nào ngờ, khi con hổ dữ sắp đuổi kịp thì tự nhiên có một ông già râu tóc bạc phơ, tay cầm một cây côn sắt, từ trong rừng hiện ra. Ông già vung côn đánh chết con hổ dữ cứu Chổm. Chổm thoát chết, sụp lạy ông già. Ông già trao cho chàng cái côn, dạy bảo:
– Con hãy học một ít miếng võ để mà hộ thân, giữ lấy bảo vật này.
Chổm sung sướng vâng lời. Sau khi dạy xong, ông già cho Chổm cái côn rồi biến mất vào sương mù.
Từ đó, Chổm dùng thần côn làm vũ khí tùy thân. Một hôm, đi ngang qua một cái miếu, nghe đồn trong đó có yêu quái hại người, Chổm bèn cầm côn trèo tường nhảy vào tìm yêu quái. Một lát sau, từ trong hang sâu bò ra một con rắn lớn, mắt sáng như sao, miệng phun khí độc toan vồ lấy Chổm. Chổm không sợ, giơ thần côn vụt tới vụt lui, đánh thẳng vào đầu rắn. Rắn chết, từ đó dân xóm được yên ổn.
Hai mẹ con Chổm thấy nhà cửa yên ổn, trở về chốn cũ. Hàng ngày, anh chàng đi kiếm củi, hoặc làm thuê làm mướn để nuôi mẹ. Những lúc bụng đói, Chổm thường vào ăn cơm, hoặc mua thức ăn ở các quán cơm tại cửa ô.
Một điều kỳ lạ xảy ra: hàng nào được Chổm vào ăn cơm, hôm đó bán đắt như tôm tươi, khách đầy ắp; còn các hàng khác chỉ ngồi xua ruồi. Người ta đồn rằng Chổm nhẹ vía, nên hàng nào cũng muốn mời anh ta vào ăn, dù bán chịu cũng được. Chổm được thế, ngày nào cũng đánh chén loang toàng, tiêu pha bạt mạng. Toàn là ăn chịu, mua chịu.
Ai hỏi nợ, hắn đều bướng bỉnh đáp:
– Đến ngày tôi làm nên, sẽ xin trả chu tất.
Hồi bấy giờ, có một vị quan danh tiếng tên là Nguyễn Kim, vì bất mãn với nhà Mạc, trốn sang Lào mưu đồ việc diệt Mạc. Vua nước Lào nhân nghĩa, nhường cho ông miếng đất Sầm-châu làm căn cứ để lo việc khởi nghĩa. Qua mấy năm chiêu binh mãi mã, Nguyễn Kim đã gây dựng được lực lượng hùng mạnh. Nhưng ông ta vẫn luôn trăn trở, muốn tìm một người thuộc dòng chính thống nhà Lê để bá cáo với thiên hạ.
Khốn nỗi, con cháu vua Lê đã bị họ Mạc giết hại hầu hết. Một đêm nọ, Nguyễn Kim thấy một vị thần nhân hiện ra trong giấc mộng, bảo:
– Thiên tử ra đời đã lâu, sao không đón về, còn chờ gì nữa?
Ông hỏi:
– Ở đâu?
Thần đáp:
– Cứ đi về phía Tây kinh thành, ở dãy hàng cơm, đúng ngày thìn giờ ngọ, hễ thấy rồng đen quấn cột là chính thị thiên tử.
Sau khi tỉnh dậy, Nguyễn Kim rất mừng, bèn mang theo một ít bộ hạ, cải trang đi tìm con cháu nhà Lê theo như lời thần nhân mách bảo. Hôm đó, Chổm đang ngồi ở hàng cơm, thấy có người khách lạ đi qua, bèn đứng dậy, ôm lấy cột gỗ nhìn ra. Nguyễn Kim rảo qua một lượt, chỉ thấy quấn cột là một chàng trai trẻ tuổi, da đen sì, nhưng thấy dáng điệu hèn hạ nên cũng không để ý.
Đêm hôm đó, Nguyễn Kim lại mộng thấy thần trách:
– Ta đã mách cho biết thiên tử mà không nghe. Ngày mai ra bờ sông, hễ thấy ai đội mũ sắt, cưỡi thuyền rồng là đúng.
Ngày mai, Nguyễn Kim chực ở bờ sông nhìn những thuyền bè qua lại, nhưng chờ mãi chẳng thấy ai đội mũ sắt cả. Mãi đến gần tối, có một chuyến đò ngang, trong đó có Chổm và một người bán chảo gang. Gặp khi trời đổ cơn mưa tầm tã, Chổm không có nón, phải mượn chiếc chảo gang úp lên đầu cho đỡ ướt. Nhưng Nguyễn Kim không chú ý, vì thấy y không có vẻ gì là người quyền quý.
Thần lại xuất hiện trong giấc mộng của Nguyễn Kim, trách ông ta không nghe lời mình rồi bảo:
– Ngày mai cứ đến chỗ quán cơm cũ, tìm người nào "đi chữ đại, trở lại chữ vương" thì đón về.
Qua ngày sau, Nguyễn Kim và bộ hạ lại kéo nhau đi tìm. Họ quả thấy anh con trai hôm nọ, bây giờ đang rượu say nằm trong quán cơm. Đầu anh gối lên ngọn côn, hai tay bỏ xuôi xuống, hai chân dạng ra hai bên như chữ "đại" ( đại ). Bỏ đi một lúc, đến lúc trở lại, họ thấy Chổm cựa mình. Lúc này, ngọn côn trật lên khỏi đầu, hai tay bỏ ra trước ngực, còn hai chân thì xếp bằng tròn như chữ "vương" ( vương ).
Bấy giờ, Nguyễn Kim mới tin chắc anh chàng này là người mà thần có ý mách cho mình. Ông bèn giả cách vào quán ăn uống, chờ Chổm dậy sẽ đến làm quen.
Chổm chợt tỉnh, thấy một người khăn áo có vẻ quyền quý đến sát giường mình, thì cầm côn chực bỏ chạy. Nhưng Nguyễn Kim đã giữ Chổm lại, thưa rằng:
– Xin điện hạ đừng sợ.
Chổm ngạc nhiên đáp:
– Ô hay! Điện hạ nào. Tôi là thằng Chổm đây!
Nhưng thấy người quyền quý ấy có vẻ ân cần, hỏi thăm cha mẹ và chỗ ở, Chổm an tâm hơn, trả lời:
– Tôi họ Lê, cha bị hổ ăn thịt, còn mẹ ở nhà.
Nghe nói là họ Lê, trong lòng Nguyễn Kim mười phần đã chắc đến bảy tám. Ông liền theo Chổm về đến tận nơi. Trước những người khách lạ, mẹ Chổm nửa mừng nửa sợ. Mãi đến khi biết được thiện ý của bọn họ, bà mới đưa ấn ngọc ra và kể rõ tình đầu từ thuở nào.
Thế là từ đó, Chổm cùng mẹ từ giã ngôi nhà nát ở ngoại thành, lên đường đến Sầm-châu, lo việc phục thù cho cha. Thanh thế quân Lê mỗi ngày một to. Vua Mạc nghe tin, sai tướng đem sáu mươi vạn quân vào đánh.
Qua bao nhiêu trận kịch chiến, quân Lê đại thắng. Rồi không bao lâu, quân của Chổm tiến đánh ra Bắc. Quân Mạc hễ thấy quân Lê đến đâu là chạy trốn như vịt. Bấy giờ, Chổm đường đường là một vị chúa, uy thế lẫy lừng.
Đến ngày khải hoàn, trở về kinh thành, khi quân gia đang trên đường tiến vào cửa ô thì bỗng có một số người chủ hàng cơm ngày xưa, những kẻ đã bán chịu cho Chổm, từ đâu kéo ra để chào người quen và để đòi nợ cũ.
Thấy thế, bọn lính tiền đạo toan bắt tội vô lễ. Nhưng chúa Chổm ngăn lại, rồi kể chuyện ăn chịu ngày còn hàn vi cho các tướng tá nghe. Đoạn, ông bảo quan hầu lấy tiền ra trả cho họ.
Lúc đó, có nhiều người thấy kẻ kia đòi được nợ, cũng xúm lại kể ơn nghĩa cũ. Kẻ tính thành năm quan, người kể thành mười quan,... biến thành một cuộc truy nợ đông như đám hội. Bọn quan hầu đếm tiền mãi không xiết vì con số chủ nợ ngày một tăng.
Bọn họ bèn nghĩ ra được một kế: đứng trên kiệu vung tiền xuống cho ai nhặt được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Mọi người thấy thế, đổ xô ra cướp. Dần dần, quan quân tiến đến phố, cứ như bây giờ là vườn hoa cửa Nam.
Một viên đại tướng nghĩ: "Chúa mình sắp lên ngôi tôn mà khách nợ cứ chạy theo réo mãi như thế này thì còn thể thống gì nữa!" Ông mới viết vào một tờ giấy hai chữ "CẤM CHỈ", dán ở giữa phố và sai một toán quân đóng lại đó, ra lệnh hễ thấy ai còn đòi nợ chúa nữa thì chém ngay. Nhờ thế, người ta mới thôi réo và thôi đuổi theo xe Chổm.
Chúa Chổm vào đến hoàng cung thì trời sắp tối. Thấy văn võ bá quan ai cũng mong muốn mình lên ngôi ngay để yên lòng thiên hạ, Chổm bèn ngửa mặt khấn trời rằng:
– Hỡi thượng đế, nếu tôi xứng đáng nối nghiệp nhà Lê thì xin quay mặt trời trở lại chính ngọ, bằng không thì tôi sẽ trở về chốn cũ làm ăn, giao quyền vị lại cho người khác.
Khấn được một lúc, quả nhiên trời sắp tối bỗng sáng hẳn, mặt trời lại treo giữa đỉnh đầu. Chổm đường hoàng bước lên, làm lễ đăng quang, tự xưng hoàng đế. Lễ tất, mặt trời tự nhiên kéo một mạch về phương Tây lặn mất. Trời bỗng lại tối sầm như mực; lúc mọi nhà vừa thắp đèn lên thì gà vừa gáy canh.
Ngày nay, còn có câu tục ngữ "Nợ như chúa Chổm" và có câu phong dao rằng:
Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng,
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
Chúa Chổm mắc nợ tỳ tỳ,
Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô.
Và ở chỗ vườn hoa cửa Nam bây giờ, cũng do sự tích trên mà người ta còn gọi là "Ngã tư Cấm chỉ".