Chương 1:
Tập 1: Rạch đùi giấu ngọc
Ngày xửa ngày xưa, tại một đất nước phương xa kia, có một vị vua thống trị một vùng đất rộng lớn. Vị vua này sở hữu một báu vật vô cùng kỳ lạ, đó là một viên ngọc quý giá hiếm có.
Viên ngọc ấy mang hai điều kỳ diệu chưa từng thấy trên đời. Thứ nhất, khi cầm trên tay, nó nhẹ tênh như không có gì, nhưng vừa đặt xuống bất cứ nơi đâu, nơi ấy lại trở nên nặng trĩu, như bị một lực vô hình kéo chặt xuống đất. Thứ hai, cứ khi màn đêm buông xuống, viên ngọc lại tỏa ra ánh sáng rực rỡ, chói chang. Dù nhà vua có cất nó ở nơi kín đáo nhất, ánh sáng ấy vẫn xuyên thấu, lọt ra bên ngoài, báo hiệu sự hiện diện của nó.
Từ ngày có được viên ngọc, nhà vua vui mừng khôn xiết. Ông đêm ngày ôm ấp, không rời xa viên ngọc lấy một bước, coi nó như báu vật của cả đời mình.
Thế nhưng, một ngày nọ, điều bất ngờ đã xảy ra. Viên ngọc quý bỗng dưng "không cánh mà bay", biến mất tăm hơi. Nhà vua tiếc nuối, đứng ngẩn người ra trong tuyệt vọng. Ông hạ lệnh cho thần dân khắp hang cùng ngõ hẻm phải ráo riết tìm kiếm, nhưng mọi cố gắng đều vô ích.
Mãi về sau, vua mới nghĩ ra kế sách. Ông sai người mang kính thiên lý ra quan sát từ xa, và quả nhiên, qua ống kính ấy, ông thấy viên ngọc đã bay vụt về phương Nam. Lập tức, vua cử một viên đại thần tài giỏi, dẫn theo năm trăm quân sĩ tinh nhuệ, ngồi trên những chiếc thuyền lớn, xuôi hướng Nam mà đi. Lệnh vua truyền xuống: phải tìm bằng được viên ngọc đó.
Sau bao ngày vượt biển khơi, gió bão, viên đại thần qua kính thiên lý bỗng nhìn thấy ánh sáng kỳ ảo của viên ngọc vụt vào vùng đất phía Nam. Ông ra lệnh cho quân sĩ dồn hết sức đuổi theo hướng ấy.
Bấy giờ, tại làng Đại-Lại, huyện Gia-Bình, có một người dân tên là Điển Chi. Một đêm nọ, khi ông đang ngồi chơi ở sân nhà, chợt thấy một luồng ánh sáng kỳ lạ bay xuống, chiếu sáng cả một khu vườn. Ông lấy làm kinh ngạc, nhưng cũng đánh bạo chạy tới chỗ ấy tìm xem. Ngỡ như mơ, ông đã bắt gặp một viên ngọc lấp lánh.
Biết đó là của hiếm trên thế gian, ông mừng quá, vội vàng đưa về nhà cất kỹ trong một chiếc hộp gỗ. Nhưng ông lấy làm lạ, vì đêm đến, ánh sáng của viên ngọc vẫn tỏa sáng khắp nhà, dù đã đậy kín nắp. Ông liền chuyển viên ngọc vào một cái thùng sắt, đậy thật chặt. Thế nhưng, sức mạnh của ánh sáng vẫn không bị che khuất; ánh sáng chói chang vẫn xuyên qua các kẽ hở của thùng sắt.
Sợ rằng viên ngọc sẽ bị lộ, và rồi lại rơi vào tay kẻ khác, ông bèn nghĩ ra cách chôn giấu. Ông đào một hố sâu, chôn thật chặt viên ngọc xuống đất. Nhưng dầu có đào sâu bao nhiêu, chôn chặt đến đâu, đêm đến ngọc vẫn phát ra ánh sáng, không thể giấu kín.
Sau nhiều ngày mò mẫm, thử đủ mọi cách mà vẫn thất bại, cuối cùng ông Điển Chi mới biết được một bí mật: chỉ có cách bỏ viên ngọc vào giữa thịt sống thì ánh sáng của nó mới được che kín trọn vẹn.
Trước dilemma ấy, ông Điển Chi đành phải liều lĩnh. Ông cầm dao, tự rạch đùi mình, nhét viên ngọc vào trong thịt, rồi khâu lại. Từ đó, chân ông đau tê buốt, không thể đi lại bình thường, nhưng may thay, của báu thì hoàn toàn được giấu kín, không ai có thể biết hay nhìn thấy.
Lại nói chuyện quan quân nước ngoài, theo dõi dấu vết ánh sáng của viên ngọc tới vùng Gia-Bình, thì bỗng nhiên mất hút. Kính thiên lý cũng vô hiệu, không còn tìm ra dấu tích. Viên đại thần bèn cho quân sĩ vào dò la khắp miền, nhưng thảy đều vô ích.
Trong lúc bế tắc, viên đại thần suy nghĩ: "Hẳn có người nào ở vùng này bắt được ngọc, biết cách dấu ngọc vào da thịt nên ngọc không phát sáng nữa".
Nghĩ vậy, ông cố moi óc tìm ra một kế sách để đưa ngọc về. Ông sai quân sĩ dựng rạp trên một hòn đảo giữa sông, rồi giết bò, mổ lợn, làm tiệc linh đình. Đoạn, ông nhờ quan huyện địa phương mời tất cả nam phụ lão ấu các làng đến dự tiệc.
Đặc biệt, mỗi người đến dự tiệc đều phải đi qua một chiếc bè nứa thả nổi trên sông, nối liền với hòn đảo. Ông còn cắt cử mấy người đứng đón ở đầu bè, dặn kỹ: "Hễ thấy lúc nào có người đi qua mà bè chìm xuống thì lập tức báo cho ta".
Suốt mấy ngày liền, dân làng các vùng lân cận, kể cả dân làng Đại-Lại, lũ lượt kéo đến ăn tiệc, hết lớp này đến lớp khác. Nhưng chẳng một ai trong số họ có sức nặng hay mang theo vật nặng đến mức làm cho bè nứa chìm xuống. Viên đại thần vẫn không nản lòng, ông cố hỏi trong đám khách dự tiệc các làng xem: "May còn sót ai chưa đi chăng?".
Một người ở làng Đại-Lại mách: "Người làng tôi thiếu mặt, chỉ trừ ông Điển Chi. Vì ông ta gần đây bị đau chân, không đi đâu được."
Nghe tin đó, viên đại thần vội sai mấy người lính sắm sửa cáng xê, đến tận nhà ông Điển Chi, dặn họ cố gắng dùng lời nói khéo léo, ân cần mời ông đi. Về phần ông Điển Chi, không biết được mưu sâu của kẻ địch, lại nghe lời mời tử tế, liền vui vẻ chấp nhận lên cáng.
Quả nhiên, vì có viên ngọc nhét trong đùi, khi ông Điển Chi vừa bước lên bè nứa, sức nặng của báu vật khiến bè tròng trành dữ dội, rồi chìm ngập xuống nước.
Thấy vậy, viên đại thần reo lên đầy hỉ hả:
- Ngọc đây rồi! Ta tìm được ngọc đây rồi!
Trước sự thật hiển nhiên, ông Điển Chi không thể giấu giếm nữa, đành thú thực mọi việc.
Viên đại thần nước ngoài nói:
- Hoàng đế nước chúng tôi mất một viên ngọc, hòn ngọc bay sang quý quốc, ông bắt được ngọc đó là một điều may mắn. Chúng tôi không có ý lấy không của ông. Nhưng để có ngọc về nộp hoàng đế, mong ông vui lòng đánh đổi, hoặc bằng quan tước, hoặc bằng bạc vàng cho chúng tôi. Ông muốn gì, cũng xin làm cho ông vui lòng.
Thấy bọn quan quân không có ý ác, ông Điển Chi nghĩ ngợi phiến khắc, rồi bảo:
- Hãy chồng tiền, vác cao bằng đầu người, từ chỗ tôi đứng cho tới nơi nào hòn chì của tôi ném ra dừng lại!
Viên đại thần nước ngoài gật đầu chấp thuận. Cuộc trao đổi vì thế được giải quyết chóng vánh và công bằng. Từ đấy, ông Điển Chi trở nên giàu có, trong nước ít người sánh kịp.
Tin ông Điển Chi bỗng nhiên giàu to, giàu có phi thường bay đến kinh đô. Nhà vua bèn cho vời ông về kinh để hỏi chuyện. Thấy ông tốt số kỳ lạ, vua chọn một công chúa xinh đẹp gả cho ông, phong ông làm phò mã.
Hai vợ chồng ông Điển Chi sống với nhau rất tương đắc. Công chúa chiều chuộng ông rất mực. Ông Điển Chi những tưởng đời mình không còn gì sung sướng hơn thế nữa.
Nhưng một hôm, một người bạn nối khố của ông từ phương xa tới thăm. Ông vui vẻ dắt bạn đi khắp nơi, khoe khoang tư sản sộ lớn của mình. Thấy bạn luôn miệng tấm tắc khen ngợi, ông có vẻ đắc chí,ngạo mạn nói:
- Giàu như tôi mới thật là nhất nước!
Không ngờ, câu nói ấy lọt vào tai công chúa. Không chịu được sự ngạo mạn của chồng, trong một lúc giận dữ, công chúa vội vàng về mách cha.
Nhà vua không ngăn được cơn thịnh nộ, lập tức cho triệu phò mã về triều và ra lệnh:
- Nhà ngươi tự khoe mình giàu có nhất nước. Được lắm! Bây giờ ngươi hãy thi với ta: đem tiền ra phát chẩn cho dân. Ta phát ba ngày đầu, ngươi phát ba ngày cuối. Nếu ta không đủ tiền để phát thì coi như lời ngươi nói đúng, ngươi sẽ không có tội gì cả. Nhưng nếu ngươi không đủ tiền để phát, thì tức là ngươi đã nói láo, đã khinh mạn "quan gia", phải phạt tội lột da nhồi trấu để làm gương cho thiên hạ!
Nghe lời truyền dõng dạc, ông Điển Chi khôn xiết kinh hoàng. Ông sụp xuống dưới chân vua, kêu xin tha tội. Nhưng nét mặt vua thản nhiên như không nghe thấy. Chẳng biết tính sao nữa, ông đành tuân lời.
Sau những ngày bận rộn chuyển vận tất cả của cải về kinh đô, ông Điển Chi lại ra mắt vua. Cuộc thi bắt đầu.
Mấy ngày đầu, vua phát chẩn, dân chúng chưa mấy ai biết tin, nên đến lĩnh chẩn còn thưa thớt. Cho nên số tiền vua ứng ra vẫn không phát hết. Nhưng đến lượt ông Điển Chi phát thì khắp nơi dân chúng đã hay tin, nên nô nức tuôn về lĩnh chẩn ùn ùn.
Ông Điển Chi phát mãi, phát mãi, vơi hết cả kho tiền mà vẫn không đủ. Hết tiền, ông lại đem gạo trong kho ra phát, mong có thể cứu được tính mạng cho mọi người. Nhưng không may cho ông, các kho gạo bắt đầu vơi mà dòng người vẫn tuôn về như nước chảy. Vì thế, ông đành chịu thua cuộc.
Nhà vua vẫn không chút thương hại chàng rể ngạo mạn. Ông Điển Chi bị quân lính bắt ra, lột da nhồi trấu, đem bêu trước cửa thành. Tất cả tài sản còn lại của ông đều bị sung công.
Thấy chồng bị vua cha làm tội, công chúa đâm ra hối hận. "Thì ra ta là gái giết chồng". Câu nói ấy luôn luôn ám ảnh lòng nàng.
Rồi một hôm, công chúa giao tất cả ruộng đất của mình cho dân làng, bỏ đi tu để cầu siêu cho chồng. Ngày nay, ở làng Đại-Lại vẫn còn một cánh đồng mà công chúa cúng cho dân, người ta gọi đó là cánh đồng Mả, cũng có người gọi là cánh đồng Ngọc, nhắc nhở về một bài học về sự kiêu ngạo và hậu quả của nó.