Chương 1:
Tập 1: Sự tích ông công ông táo
Ngày xửa ngày xưa, tại một làng quê nghèo hẻo lánh, có đôi vợ chồng trẻ son rỗi sống trong một gian nhà tranh vách đất. Họ chẳng có tài sản gì ngoài đôi bàn tay trắng và nghề làm thuê mướn vất vưởng. Dù cuộc sống thường nhật chỉ là những bữa cơm nhạt nhẽo, những đêm dài thiếu ánh sáng, nhưng tình yêu thương giữa họ vẫn đong đầy như vầng trăng rằm. Mỗi khi tịch dương buông xuống, bếp lửa gia đình lại bùng lên ấm áp, hai vợ chồng cùng ngồi đó, chuyện trò những tin tức xa gần, hay cất lên những điệu hò tình nghĩa ngọt ngào, xua đi cái lạnh lẽo của cảnh ngộ.
Rồi một năm, hạn hán kéo dài, mùa màng thất bát. Những hạt gạo trở nên khan hiếm, giá đắt như vàng. Cảnh đói kém lan tràn khắp mọi miền. Đôi vợ chồng vẫn giữ lệ cũ, ngày ngày tìm đến cửa những nhà giàu có để xin việc, nhưng chẳng mấy ai còn cần đến nhân công, hoặc đã có người trả nợ trước. Cổng các phủ đệ trọc phú đều đóng chặt, đóng kín như những lời từ chối lạnh lùng. Không có việc làm, họ phải mò cua, bắt ốc, đào củ, hái rau dại về cầm cự qua ngày. Dù đã cố gắng tối đa, tình thế vẫn chẳng hề sáng sủa hơn. Cái chết đói luôn rình rập, đe dọa từng ngày.
Một buổi chiều tà, gió heo may thổi qua những ruộng lúa trụi lá, người chồng sau khi húp xong mấy bát canh rau má loãng loãng, nhìn vợ với ánh mắt buồn thiu, lên tiếng:
– Em à, anh phải đi một nơi khác kiếm ăn. Ở đây, anh chẳng thể nào trụ lại nổi.
Nghe lời nói ấy, người vợ như thủy chảy lệ, nghẹn ngào đòi đi theo để sống chết có nhau. Nhưng người chồng lắc đầu, giọng trầm hẳn xuống:
– Anh chưa biết sẽ đi đến đâu, sẽ làm những gì. Nàng ở nhà còn dễ sống hơn anh, đừng đi theo làm gì cho thêm phần gian khổ. Biết đâu, anh sẽ nằm lại dọc đường, chỉ để cho loài chim muông đến than khóc; nhưng cũng biết đâu, anh lại mang về những quan tiền, bó mo mới giúp nàng đỡ đần. Chao ôi! Số mệnh con người thật khó lường! Nàng hãy chờ anh trong ba năm. Hết ba năm mà không thấy anh trở về, ấy là anh đã bỏ xác nơi quê người. Đến lúc đó, nàng cứ việc đi lấy chồng khác, đừng giữ lấy phần cô đơn.
Người vợ khóc lóc thảm thiết, nước mắt rơi như mưa, như thể đang đứng trước một đám tang thực sự. Nhưng sự đời đã vậy, nàng đành nghẹn lời, tiễn chồng ra đi. Sau khi tiễn chồng, người đàn bà may mắn kiếm được việc làm giúp việc cho một gia đình khá giả. Dù nhà họ không giàu sang lắm nhưng thương cảnh ngộ cô đơn của nàng, họ đã giúp đỡ nàng qua những ngày thảm đạm. Ở đây, nàng được ăn hai bữa một ngày, có bát cháo nóng, có khoaiLANG. Nhờ sự lanh lẹ, xinh xắn và hiền lành, nàng sớm lấy được cảm tình của chủ nhà. Thế nhưng, hình bóng người chồng thân yêu vẫn in hằn trong tâm trí nàng, không bao giờ phai nhạt.
Thời gian trôi qua nhanh như nước chảy phù sa. Mấy năm trôi qua, người ta đã ít nhắc đến trận đói khốc liệt năm nào, cuộc sống dần ổn định trở lại. Còn nàng, ngày ngày vẫn hồi hộp chờ đợi chồng. Vườn bưởi trước sân đã ba lần trổ hoa thơm nức mũi, thế nhưng chồng nàng vẫn không thấy tăm dạng.
Giữa lúc ấy, người chủ nhà – người từng bao bọc, giúp đỡ nàng trong lúc khó khăn – vừa mất vợ. Sẵn có cảm tình sâu sắc với nàng, người đàn ông ngỏ ý muốn nối duyên cùng nàng để cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng hắn đâu có hiểu được tấm lòng sắt son của người thiếu phụ. Nàng cúi đầu, khinh thanh trả lời:
– Chồng tôi đã hẹn với tôi trong ba năm sẽ về. Đến bây giờ, tôi mới bắt đầu tin rằng chồng tôi đã không còn. Vậy xin cho tôi để tang chồng trong ba năm nữa, cho trọn đạo nghĩa vợ chồng.
Ba năm nữa lại trôi qua trong chốc chốc. Không một nét chữ, không một lời đồn nào về người xấu số. Mỗi buổi chiều tà, nàng vẫn đăm đăm nhìn bóng người đi lại trên con đường cái quan, nơi chồng nàng đã ra đi. Và rồi, nàng khóc cạn cả nước mắt. Người chồng mới, thấy thời gian đã đủ, ân cần giục giã:
– Một là chồng nàng đã chết, hai là còn sống nhưng đã lập gia đình khác ở nơi xa xôi hẻo lánh. Đằng nào, nàng cũng khó mong ngày tái ngộ. Thà là cùng tôi lập một gia đình mới. Sức lực của tôi và tài sản của tôi, đủ bảo đảm cho nàng sung sướng trọn đời.
Nàng sửa lại chiếc khăn tang đã ngả màu, cảm ơn hậu tình của anh ta, nhưng vẫn xin thêm một năm nữa để chờ đợi. Một năm nữa lại trôi qua, lặng lẽ và vô vọng. Không mang lại bất kỳ tin tức mới mẻ nào. Lần này, nàng mới thực sự tin rằng chồng mình đã chết thật. Sau một bữa rượu cúng hồn chồng và mời họ hàng làng xóm đến chia buồn, nàng đồng ý ở cùng người chồng mới.
Thế nhưng, định mệnh chơi một nước cờ tàn khốc. Đột nhiên, sau đó ba tháng, người chồng cũ xách theo chiếc khăn gói cũ kỹ trở về quê hương. Chàng chẳng khấm khá hơn trước, dáng vẻ tiều tụy, rách rưới. Chàng chỉ ôm một hy vọng mong manh là được gặp lại người vợ yêu. Nhưng vườn cũ nay đã thuộc về chủ mới, nhà cửa đã đổi chủ. Chàng lẩm bẩm với chính mình: "Thế là hết. Bởi số cả!".
Việc người đàn ông đột ngột trở về làm cho mọi người ngơ ngác. Nhất là đôi vợ chồng mới cưới, không biết ăn nói làm sao cho phải. Người vợ xấu hổ, mặt đỏ bừng, không dám nhìn mặt ai. Nhưng người chồng cũ đã tìm đến họ, giọng buồn bã nhưng đầy bao dung:
– Tôi đi vắng lâu quá. Cái đó hoàn toàn là lỗi ở tôi. Nàng xử sự như thế rất đúng, rất đúng đạo nghĩa. Tôi chỉ cần về gặp nàng một chút, thấy nàng bình yên là đủ. Bây giờ, tôi sẽ đi khỏi nơi này mãi mãi.
Mặc dầu người vợ nài nỉ hết sức, nước mắt lại rơi, mặc dầu người chồng mới đoan hứa sẽ trả lại vợ cho chàng, nhưng người chồng cũ nhất quyết dứt áo ra đi. Chàng không nỡ phá hạnh phúc của họ, mà cũng không có gan đi đâu xa vì trong lòng vẫn không thể quên được người vợ cũ. Băn khoăn, dằn vặt hành hạ tâm trí chàng. Đầu óc rối như mớ bòng bong. Chàng nghĩ đến cái chết như một sự giải thoát. Trong một lúc cuồng loạn, chàng tự treo cổ lên cây đa đầu làng, nơi bóng dáng người vợ hiện về trong ký ức.
Cái chết kinh khủng đó như một tiếng sét nổ vào đầu người đàn bà. Nàng cảm thấy chính mình là thủ phạm gây ra cái chết của người chồng cũ. Tại sao ta chờ chồng được bảy năm trời mà không rán chờ thêm ít lâu nữa? Tại sao thấy chồng trở về, ta không dám giáp mặt? Nàng không tự chủ được nữa. Tất cả những câu hỏi như lên án một cách âm thầm nhưng kịch liệt trong đầu óc nàng, khiến nàng đau khổ cực độ.
Rồi buổi sáng hôm sau, trong khi người ta sắp sửa cất đám cho người đàn ông bạc mệnh, thì người ta lại hoảng hốt kéo nhau đi vớt tử thi người đàn bà dưới cái ao bên cạnh nhà. Người chồng mới sau khi làm ma cho vợ, trở nên như người mất trí. Hai cái chết đánh mạnh vào đầu óc mọi người, riêng đối với chàng chưa bao giờ có một sự xúc động dữ dội đến như thế. Chàng luôn miệng kêu to: "Tại sao ta cố ý cướp vợ của người khác?". Rồi một hôm, sau khi đem hết gia sản chia cho họ hàng và cúng vào chùa, chàng uống thuốc độc tự tử, theo đuổi vợ và chồng cũ xuống suối vàng.
Lúc xuống đến thế giới bên kia, cả ba người đều được đưa tới trước tòa án của Diêm Vương để định công luận tội. Tất cả mọi người, một khi đã đến đây, đều phải khai rõ sự thật ôm ấp trong lòng.
Theo lời khai của người chồng cũ, chàng trình bày rằng chàng không thể nào xa lìa vợ cũ. Chàng sở dĩ chọn cái chết ở làng là chỉ mong luôn luôn được gần gũi nàng, dù chỉ là trong ký ức. Người chồng mới cũng khai rằng chàng có cảm tình rất sâu xa đối với người vợ mới, mặc dầu mới chính thức lấy nhau chỉ có ba tháng. Khi Diêm Vương hỏi tình của chàng đối với người vợ cũ như thế nào, chàng giơ ngón tay so sánh rằng một bên mười, một bên chưa được một, khẳng định tình cảm vợ chồng vẫn còn vẹn nguyên.
Đến lượt người đàn bà, nàng thú thật rằng cái tình của nàng đối với chồng cũ chiếm một chỗ rộng rãi trong lòng mình, đồng thời đối với người chồng mới, nàng cũng không thể nào quên được tình cảm nồng nhiệt, ân tình của chàng.
Diêm Vương ngồi nghe rất cảm động. Những người như thế này, biết hy sinh, biết chung thủy và biết yêu thương, cũng thật hiếm có. Cần phải làm cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi mãi, không còn phải chịu cảnh chia ly đau khổ trên trần thế. Sau một hồi lâu suy nghĩ, Diêm Vương phán: "Vì các người đều là những người có tình có nghĩa, không thể tách rời nhau, ta cho các người hóa thành ba ông Đầu Rau để các người khỏi lìa nhau, và để ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của các người".
Đồng thời, Diêm Vương còn phong cho họ chức Táo Quân, trông nom từng bếp một, nghĩa là từng gia đình một trên trần thế. Đó chính là nguồn gốc của tục thờ cúng Ông Công Ông Táo vào mỗi dịp 23 tháng Chạp hàng năm, để tưởng nhớ và ghi nhận tấm lòng thủy chung, bất diệt của ba vị Táo Quân này.