Hữu Duyên Audio Hữu Duyên Audio

Chương 1: Tập 1: Sự tích sông Tô Lịch

Font:
Dòng:
Chữ:
Cỡ chữ:

Ngày xửa ngày xưa, vào thời kỳ hưng thịnh của nhà Lý, tại kinh thành Thăng Long, bỗng xảy ra một biến cố kinh hoàng làm xáo động cả triều đình. Đó là việc vị Hoàng đế lâm trọng bệnh đau mắt.

Bệnh tình diễn tiến nhanh và dữ dội đến khó tin. Đôi mắt vua sưng húp lên, đỏ ngầu, đêm ngày nhức nhối như có lửa đốt, khiến thiên tử đau đớn tột cùng. Mấy tháng ròng, vua không thể rời khỏi tẩm cung để ra điện Kinh Thiện coi chầu. Triều chính vì thế mà rối ren, việc nước bỏ ngỏ, các quan đại thần ai nấy đều lo âu, bất an.

Nhà vua đã huy động toàn bộ tài giỏi y thuật trong và ngoài kinh thành. Những lương y nổi tiếng, những thầy thuốc chuyên khoa về mắt được vời vào cung hết sức tận tụy. Nhưng bao nhiêu thuốc men quý giá, bao nhiêu phép lạ trị liệu đều rơi vào hư vô. Đôi mắt nhà vua vẫn cứ sưng to, chẳng hề thuyên giảm.

Lòng lo lắng lan tỏa khắp cung đình. Những cung giám hốt hoảng chạy đôn chạy đáo tìm thầy cứu mạng vua cha. Họ lễ bái khắp các đền chùa, cầu mong thần phật phù hộ. Thế nhưng, ánh mắt hoàng gia vẫn tối sầm, sức khỏe vua ngày càng suy kiệt, gần tròn hai tháng trời không có chút khởi sắc.

Rồi một ngày nọ, một sự kiện lạ xảy ra. Hai tên lính hầu dẫn vào cung một thầy bói từ núi Vân Mộng mới về. Vị thầy này nổi tiếng là người có khả năng bói dịch, luận đoán vận mệnh con người rất linh nghiệm. Sau khi được mời vào, thầy bói tiến hành gieo đốt mấy que thiến, xem quẻ cho bệ hạ. Mái tóc bạc phơ của ông rung lên bần bật trước những lời tiên tri kỳ lạ:

– Tâu bệ hạ, quẻ này hiển thị tượng vua vô cùng nghiêm trọng. Quả thực, bệ hạ đang bị “thủy phương can tuất” ám nhập vào đôi mắt. Chướng khí ấy không thể tiêu tan bằng thuốc thang thông thường. Trừ phi phải có biện pháp trấn áp cực đoan, lấy vật tế thần để cân bằng âm dương, thì cơn bệnh mới có thể lui.

Nghe lời thầy bói, nhà vua tuy nghi ngờ nhưng vì bệnh tình quá nặng, đã sai hai viên quan trong thành thực hiện ý chỉ.

Thuở ấy, phía Tây Bắc thành Thăng Long, có hai con sông nhỏ chảy song song và hợp lưu đổ ra sông Cái, tại khu vực ngày nay là bến Giang Tân. Đó là hai con sông Tô Lịch và sông Thiên Phù. Hai viên quan được cử đi đến ngã ba sông, dựng đàn tế lớn, cáo yết với thần Hà Bá để cầu xin sự giúp đỡ cho bệnh tình của vua.

Đêm hôm ấy, một viên quan ăn chay niệm Phật, nằm trước đàn cúng để cầu mộng. Trong giấc mơ mờ ảo, một vị thần hiện ra, giọng nói trầm hùng vọng lại: “Đến sáng tinh sương ngày ba mươi tháng Chạp, hãy đến đứng ở bên kia bến đò. Ai đến đó trước tiên, lập tức bắt giữ và quẳng xuống sông, phong làm thần trấn thủ thì bệnh của vua sẽ khỏi.”

Hai viên quan tỉnh dậy, báo lại mọi chuyện với vua. Nhà vua, vì quá đau đớn và lo sợ về di sản hậu cung, đã nhất quyết thực hiện kế hoạch này. Một viên đại thần thiện tâm nghe tin, can ngăn vua rằng việc giết người vô cô (vô tội) để cầu phúc là việc bất đức, nghịch thiên. Nhưng vua Lý không nghe, ông cho rằng mạng sống của một hai dân thường nào có đáng giá so với đôi mắt của thiên tử, và hơn nữa, sắp sửa đến dịp năm hết Tết đến, việc đau mắt của vua sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghi lễ long trọng và uy nghiêm của triều đình.

Tại làng Cảo, thuộc tả ngạn sông Tô, lúc bấy giờ, có một đôi vợ chồng nghèo khó làm nghề bán dầu rong. Dân gian vẫn quen gọi họ là Ông Dầu và Bà Dầu. Cuộc sống của hai ông bà bấp bênh, hôm mai bán chiếc chảo dầu nhỏ bé để nuôi thân. Hàng ngày, buổi sáng, chồng gánh chai dầu, vợ vác gáo cùng tiến vào thành bán; buổi chiều trở về, vợ nấu cơm, chồng cất hàng.

Hôm ấy là ngày ba mươi Tết. Hai vợ chồng định bụng bán nốt mẻ dầu cuối cùng của năm cho một số chùa chiền, vì dịp cuối năm, người ta cần dùng nhiều dầu để thắp đèn Tết. Họ dậy thật sớm, khi trời còn chưa sáng tỏ. Chồng gánh đôi quang tải nặng, vợ vác đôi gáo rỗng, tiến bước về phía ngã ba sông Tô Lịch – Thiên Phù.

Đến nơi, họ vào nghỉ chân trong lò canh đợi đò. Đường đi vắng tanh, sương mù bao phủ mặt nước, chưa có bóng người qua lại. Nhưng trong chòi canh, vẫn có hai tên lính mặc áo giáp, tay cầm giáo mác đứng gác.

Vừa thấy hai vợ chồng bước vào, hai tên lính xông ra, khiến ông bà giật nảy mình. Họ không ngờ hôm nay lại có quân cấm vệ đứng gác tại đây. Thấy mặt mũi chúng hung ác, dữ dằn, hai vợ chồng hoảng sợ, nhưng khi nghe câu hỏi lạnh lùng của chúng:

– Hai người đi đâu sớm thế này?

Họ run rẩy trả lời sự thật: họ chỉ là những người bán dầu rong. Họ cố ý phân bua, nói rằng việc bán dầu hàng ngày của mình chỉ vừa đủ nuôi miệng, không có gì giàu có.

Nhưng hai tên lính vẫn lân la hỏi chuyện, giọng điệu đầy vẻ đe dọa ẩn sau sự tò mò:

– À, ra hai người khổ cực như thế đó. Vậy nếu có tiền thừa thãi, thì hai người sẽ thích món gì nào? Nói đi! Nói đi, rồi chúng tôi sẽ kiếm cách giúp cho.

Thấy câu chuyện chuyển hướng kỳ lạ, ông Dầu bà Dầu tỏ vẻ hoang mang. Nhưng trước những lời hỏi dồn, ép buộc, họ chỉ có thể làm bộ tươi cười, trả lời cho qua chuyện:

– Tôi này à? Người chồng đáp, giọng lắp bắp: Tôi thì thấy một đĩa cơm nếp và một con mái ghẹ là đã tuyệt phẩm.

Người vợ cũng gật đầu đồng ý, nhưng bà thêm vào một đĩa bánh rán, món ngon bà thèm nhất những ngày giáp Tết.

Vì chưa thấy bóng đò, hai vợ chồng lấy làm sốt ruột, mong sao sớm vào thành bán được mẻ dầu đầu tiên cho chùa Vạn Thọ. Họ bước ra nhìn xuống dòng sông lạnh lẽo. Hai tên lính từ nãy đã rình rập họ, bấy giờ mới bất ngờ bịt mắt họ lại và lôi đi sềnh sệch.

Họ cùng van lên, nước mắt ròng ròng:

– Lạy ông, xin ông tha cho chúng cháu, chúng cháu chẳng có gì, chỉ là dân thường nghèo khổ!

Nhưng hai tên lính chẳng nói chẳng rằng, tay chân cứng rắn, cứ cột chặt tay họ lại và dẫn đến bờ sông. Bức bối và tuyệt vọng, chúng nhấc bổng họ lên và cùng một lúc ném mạnh xuống dòng nước lạnh buốt.

Bọt tung sóng vỗ ầm ầm. Và hai cái xác chìm nghỉm, để lại bao oan khiên dưới đáy sông sâu. Rồi đó, hai tên lính cắm cổ chạy biến, chẳng ai hỏi han gì thêm.

Kỳ lạ thay, ngay ngày mồng một tháng Chạp, đôi mắt của vua bỗng nhiên sáng tỏ, tự nhiên khỏi hẳn như chưa từng có bệnh tật gì. Nhưng bên kia bờ sông, nỗi oan khuất của Ông Dầu và Bà Dầu thì căm thù vô hạn.

Qua hôm sau, hai tên cấm vệ đã giết người vô cớ, tự nhiên treo cổ chết trên gốc đa trong hoàng thành. Rồi giữa hôm mồng một Tết, lão chủ quán ở bên kia Giang Tân, như bị âm hồn nhập vào, phụ đồng lên giữa chùa Vạn Thọ. Ông ta nói toàn những câu phạm thượng, giọng điệu gào thét, đứt khúc nhưng ai nấy đều hiểu rõ, đại lược là:

– Chúng ta là Ông Dầu bà Dầu đây… Chúng mày là quân tàn ác, dã man, quân giết người lương thiện… Chúng mày sẽ chết tuyệt diệt… Họ Lý chúng mày sẽ không còn một mống nào để mà nối dõi… Chúng tao sẽ thu hẹp hai con sông Tô Lịch và Thiên Phù lại… Chừng nào bắt đầu thì chúng mày đừng hòng trốn thoát…

Những lời nguyền rủa ấy bay về đến tai vua, khiến nhà vua vô cùng lo sợ, hoảng hốt. Vua liền sai lập một đền thờ uy nghiêm ở trên ngã ba Giang Tân và phong cho hai người là Phúc Thần, để cầu mong sự bình an. Mỗi năm, cứ đến ngày ba mươi tháng Chạp, các viên quan bộ Lễ lại được phái đến đây cúng Ông Dầu Bà Dầu với những món ăn mà họ ưa thích: cơm nếp, gà mái ghẹ và bánh rán.

Nhưng ngôi báu nhà Lý quả nhiên chẳng bao lâu nữa lại lọt về tay nhà Trần. Dòng họ Lý quả nhiên suy tàn, đến nỗi chỉ những ai đổi qua họ Nguyễn mới hòng trốn thoát khỏi mối họa diệt vong ấy.

Còn sông Thiên Phù quả nhiên cứ bị phù sa lấp dần, lấp dần, cho mãi đến ngày nay chỉ còn lại một lạch nước nhỏ ở phía Nhật Tân. Sông Tô Lịch cũng thế, ngày nay chỉ là rãnh nước bẩn đen ngòm, không còn vẻ thơ mộng thuở nào.

Duy chỉ có miếu thờ Ông Dầu Bà Dầu thì hàng năm, dân vùng Bưởi vẫn mang lễ vật theo sở thích của hai vợ chồng đến cúng lễ vào ngày ba mươi tháng Chạp, tưởng nhớ và cầu mong sự bình yên cho cuộc sống.