Hữu Duyên Audio Hữu Duyên Audio

Chương 1: Tập 1: Trạng nguyên Giáp Hải

Font:
Dòng:
Chữ:
Cỡ chữ:

Ở đoạn đê dài chạy qua làng Công Luận, thuộc trấn Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh), thuở ấy có một người đàn bà goá đứng tuổi. Bà sống bằng nghề mở quán nước và bán quà bánh ven đê. Người hiền lành, chất phác, lại cô đơn không còn thân thích ruột rà, nên quán xá của bà nằm ở nơi hẻo lánh, xung quanh chỉ toàn những đầm nước lầy thụt, ít ai qua lại. Cuộc sống của bà vì thế cũng nghèo khó, lam lũ nhưng vẫn giữ được sự thanh thản.

Một hôm, có một ông khách lạ đi đường ghé vào quán, ăn qua loa vài thứ và uống bát nước. Lúc ra về, do đãng trí, ông ta vô tình bỏ quên lại trên quầy một túi vải lớn. Khi dọn dẹp, bà hàng thấy túi tiền, bà lẳng lặng cất đi mà không mở ra xem. Mấy ngày sau, ông khách quay lại, nét mặt bần thần, ngơ ngác, dò hỏi quanh co nhưng chưa dám nói thẳng. Hiểu ý bà hàng, bà vào buồng lấy túi tiền nguyên vẹn trả lại, sắc mặt vẫn bình thản, chẳng hề biểu lộ thái độ gì.

Ông khách nhận lại túi tiền, mừng rỡ khôn xiết. Nhưng trong bụng, ông lại sinh nghi bèn mở ra đếm lại một lượt. Khi thấy không thiếu một đồng nào, ông tự thấy xấu hổ, vội vã cảm tạ và gạt một nửa số tiền ra biếu bà. Thế nhưng, vừa dứt lời, bà hàng đã lắc đầu quầy quậy, bảo ông cất tiền đi. Thấy ông nài nỉ mãi, bà mới khẽ nói:

- Cảm ơn ông. Tôi tuy nghèo nhưng cũng biết phân biệt nghĩa lý, phải trái. Đây là tiền của ông, có phải là công sức khó nhọc của tôi đâu? Ông vui lòng giữ lấy vậy.

Ông khách ngồi lặng đi hồi lâu, vẻ mặt suy tư. Quả thật, ông đã đi lại nhiều nơi, tiếp xúc với đủ hạng người, nhưng chưa từng thấy ai có tấm lòng "trọng nghĩa khinh tài" như vậy. Ông tự nhủ thầm: *"Đây là số tiền bà ấy có ăn cả đời cũng không hết. Đã vậy, ta phải lấy tấm lòng chân thành để đáp lại tấm lòng chân thành của người ta."*

Ông ngỏ lời:

- Chẳng giấu gì bà, tôi là thầy địa lý, đi lại vùng này nhiều năm, biết được một vài ngôi đất quý. Có một ngôi sau này con cháu sẽ phát đạt đến Tể tướng, Trạng nguyên. Vừa nãy, bà không nhận tiền làm tôi áy náy quá. Vậy tôi muốn giúp bà cải táng lại phần mộ cụ thân sinh...

Bà chú ý nghe xong, nhưng lại mỉm cười buồn bã:

- Cảm ơn thầy. Có lẽ thầy chưa rõ hoàn cảnh của tôi. Ông nhà tôi đã mất, lại không có con cái. Anh em thân thích nội ngoại cũng không còn ai. Nếu được ngôi đất quý thì cũng chẳng biết để làm gì. Xin thầy bỏ qua cho.

Thầy địa lý vẫn một mực thuyết phục:

- Bà chớ ngại. Cơ trời biến hóa khôn lường, người thường khó mà đoán trước. Ngôi đất Trạng nguyên nếu cụ thân sinh bà được táng vào đấy, thì ít nhất sau này bà cũng sẽ được mát mặt, an nhàn.

Lời thầy địa lý chạm đúng vào nỗi lòng bà. Bà không dám mơ đến Trạng nguyên, Tể tướng, nhưng nỗi lo tuổi già một thân một mình vẫn canh cánh bên lòng. Cuối cùng, bà đồng ý, đưa ông ra đồng, chỉ cho ông ngôi mộ của cha đẻ để ông lo việc cải táng. Công việc xong xuôi, trước khi từ giã, ông thầy còn dặn dò: *"Hãy chăm làm việc thiện nhiều hơn nữa, thì phúc lộc, công quả mới chóng ứng nghiệm."*

Việc ấy rồi cũng qua đi. Ban đầu, bà hàng còn hay nghĩ tới, ao ước, nhưng sau đó, do bận rộn buôn bán, bà cũng quên dần. Tuy nhiên, bản chất tử tế khiến bà vẫn thường xuyên giúp đỡ những người cơ nhỡ đi qua, dù đời sống bà cũng chỉ vừa đủ ăn.

Khoảng một năm sau, một buổi chiều, trời đang nắng gắt bỗng mây đen ùn ùn kéo đến. Sấm chớp đùng đùng, mưa đổ như trút nước. Bà hàng vội vàng dọn dẹp, đóng quán lại, nghĩ rằng mưa thế này thì chẳng ai vào nữa. Đang ngồi trong quán, bà bỗng nghe thấy tiếng người gọi gấp gáp lẫn trong tiếng mưa. Bà vội mở cửa, trước mặt là một người đàn ông đứng tuổi, đầu tóc quần áo ướt sũng, mặt mày nhợt nhạt, người run lên cầm cập. Đó là một người đánh dậm, mang đầy đủ đồ nghề.

Người ấy dựng vội cái dậm, cái bập và chiếc giỏ vào vách, lách cửa bước vào, miệng nói xin trú mưa tạm. Vừa vuốt tóc, vuốt quần áo cho nước chảy, thì toàn thân người ấy run lên bần bật, rồi bất thình lình ngã vật xuống. Bà hàng thấy vậy, vội vã quơ một nắm nỏ, nhóm lửa sưởi cho người ấy. Bà lại đi tìm hộp dầu, thứ vốn nàng rất dè xẻn, chỉ khẽ xoa khi đau đầu sổ mũi, nay bà lại xoa thật đậm lên trán, thái dương, ức, gáy, sống lưng, bụng và hai lòng bàn tay bàn chân của người ấy.

Một lúc sau, người đánh dậm tỉnh lại nhờ được cứu chữa kịp thời. Bà hàng vội đi bắc niêu cháo hành cho người ấy ăn lấy sức. Sau khi bình phục, người đánh dậm tỏ lòng biết ơn chân thành, khiến bà hàng cũng sinh cảm tình. Nhân câu chuyện, người ấy kể lại gia cảnh: Một người rất nghèo, ở Bát Tràng, ba đời làm nghề đánh dậm. Đến nay luống tuổi nhưng vẫn chưa có tiền cưới vợ. Bà hàng nghe xong, cảm thương trong lòng.

Nhìn ra ngoài, trời đã tối. Mưa ngớt nhưng gió vẫn mạnh, mây đen vẫn ùn ùn. Người đánh dậm xin về, nhưng bà hàng bảo trời sắp mưa đợt nữa, nếu giữa đường bị cảm, e rằng nguy to. Người ấy lưỡng lự, nét mặt bần thần, cuối cùng đành ở lại.

Hai người cùng thổi cơm, làm thịt cá, ngồi ăn uống với nhau, câu chuyện dần thân mật. Đến lúc đi ngủ, vì nhà chật, chỉ có một chiếc chõng với một chiếc chiếu, họ đành phải ngủ chung. Lúc đầu còn ngượng ngịu, nhưng về sau, hơi ấm và sự đụng chạm khiến cả hai không thể cưỡng lại được... Nhưng thật không may, người đánh dậm thời gian bị cảm mạo chưa lâu mà đã ân ái, phạm phải phòng the, rồi lăn ra chết đột ngột.

Bà hàng hết sức bối rối, tìm mọi cách cứu chữa nhưng bó tay. Định thần lại, bà cảm thấy sợ hãi vô cùng: Ngày mai mọi người biết chuyện thì vừa xấu hổ vừa bị liên lụy, quan trên ắt sẽ lục vấn, khảo tra, tù tội ắt đến. Nghĩ dứt, bà vội khâm liệm cho người quá cố, một mình vác cuốc, vác xác đi chôn ngay. Khi chôn xong, bà còn xoa đất ngụy trang cho không còn dấu vết. *"Thôi thì ông hãy mồ yên mả đẹp, chớ nên oán trách tôi làm gì"* - bà lẩm bẩm khấn khứa trước lúc ra về.

Từ đấy, bà hàng bắt đầu có mang. Chín tháng mười ngày sau, sinh hạ được một mụn con trai. Mặc cho thiên hạ lời ra tiếng vào, thậm chí chê cười khinh bỉ, bà vẫn để ngoài tai, vừa bán hàng vừa chắt chiu nuôi nấng đứa con.

Ngày tháng qua đi, đứa trẻ lớn dần, khôi ngô tuấn tú và linh lợi hoạt bát hơn người.

Một hôm, khi trong quán có vài khách, bà hàng đang mải rót nước, đưa bánh thì đứa trẻ đã leo lên mặt đê, đi sang mé bên kia. Đê cao, bằng phẳng, nhìn thấy dòng sông rất gần. Ở mép nước, một chiếc thuyền buôn neo đậu. Người chủ thuyền ngồi nghỉ trong khoang, chợt thấy đứa trẻ liền vẫy tay. Ban đầu chỉ là giải khuây, nhưng càng nhìn càng ưng ý, ông ta nảy ra ý định bắt cóc. Ông nhảy lên bờ, lân la đến bên đứa trẻ, chuyện trò, đưa kẹo, rồi dụ nó xuống thuyền chơi. Đứa trẻ ngây thơ, quen người lạ ngay lập tức, liền theo ông ta xuống thuyền.

Khi đứa bé xuống thuyền xong, chủ thuyền nháy mắt, người bẻ lái động chèo. Chiếc thuyền rời xa bờ, dương buồm chạy thẳng...

Bên này, khi khách vãn, bà hàng hốt hoảng đi tìm con. Hút chân đê, hút mặt đê, tầm mắt đều chẳng thấy gì. Chạy về phía dòng sông, nhìn nước cuộn chảy, xung quanh vắng vẻ, bà nghĩ: *"Con mình nếu ngã xuống, nước đã cuốn đi tận đâu mất. Còn nếu bị bắt cóc, một thân một mình làm sao tìm ra manh mối?"* Suy đi tính lại, bà càng tuyệt vọng. Bà kêu rú lên từng hồi, khóc con, gọi con. Nỗi đau đớn ấy chỉ có một mình bà hay biết.

Khi sức kiệt, bà lủi thủi quay về quán, đêm ngày âm thầm gạt nước mắt, sống qua ngày. Nhưng do công việc, nỗi nhớ con dần nguôi ngoai.

Người lái buôn bắt cóc đứa trẻ vốn là người họ Giáp, ở làng Dĩnh Kế, cùng tổng với làng Công Luận. Ông là người rất giàu có, kho thóc đống, buôn bán khắp nơi, lanh lợi và hiểu biết rộng. Thời trẻ là tay chơi bời, mắc bệnh giang mai, chữa khỏi nhưng tuyệt đường con cái. Nghĩ mình của nả dư thừa mà không có con nối dõi là uổng phí, từ lâu ông ta đã nảy ý định đi bắt một đứa trẻ về nuôi. Ông đã vài lần thực hiện nhưng chưa thành, vì những đứa trẻ gặp phải đều xấu xí, không hứa hẹn tương lai.

Khi qua khúc đê ở làng Công Luận, nhìn kỹ thấy đứa trẻ kháu khỉnh, ông ta thực hiện ý đồ thành công. Đem đứa trẻ về nhà, ông ta mừng lắm, nói với người nhà là xin của một người bạn hàng đông con ở xa, dặn nghiêm cấm không được hé lộ tung tích. Ông ta đối xử với đứa trẻ rất mực chu đáo, gọi nó là "con", xưng là "bố", đi chạy giấy khai sinh, đặt tên họ cho nó là Giáp Hải.

Năm Giáp Hải lên sáu tuổi, ông cho nó đi học. Là đứa thông minh, trí nhớ đặc biệt, Hải học hành rất tấn tới. Ông thầy đồ và mọi người đều gọi nó là "thần đồng" - học mười biết mười, chứ không phải học mười quên chín như nhiều trẻ khác. Càng lớn, Giáp Hải càng thông tuệ. Đến năm 19 tuổi, đi thi Hương, chàng đã đỗ ngay Á Nguyên (thứ nhì).

Năm sau, kỳ thi Hội, Giáp Hải lên đường nhưng không đỗ. Lại về đèn sách với ông thầy cũ. Ba năm sau, đi thi Hội lần thứ hai, cũng vẫn trượt. Ông bố nuôi, vốn cơ trí, hiểu ra lỗi này tại con ít mà tại thầy nhiều: Thầy ở thôn dã, chưa đỗ đại khoa thì trò sao đọ sức được với các anh tài thiên hạ?

Ông bèn soạn một lễ hậu đến nhà thầy cảm tạ, rồi sắm sửa cho con lên kinh học một cụ Nghè danh tiếng. Ông bán thóc lúa, quyết chí dốc vốn cho con ăn học đến nơi đến chốn, thân hành dẫn con đi, đến nhà thầy, nhà trọ, dặn dò đâu đấy rồi ra về.

Giáp Hải khi ấy 23 tuổi, đã là chàng trai trưởng thành. Dù cha không dặn dò, chàng cũng tự thấy phải chăm chỉ hơn, để khỏi phụ lòng ông.

Ở Kinh đô, từ nhà trọ đến nhà thầy, hàng ngày Giáp Hải phải đi qua bến Bồ Đề. Bến này, ngư dân đánh cá dưới sông thường đem về đây bán. Một hôm, đi học về, Hải dừng lại mua thức ăn, thấy một người đánh cá đứng bán một con ba ba có hoa nổi trên lưng rất đẹp. Là dân miền sông nước, Giáp Hải chẳng lạ gì ba ba, nhưng càng ngắm càng thấy con này có gì đó khác thường. Hải lên tiếng hỏi mua. Người đánh cá, vốn láu lỉnh, đã phát giá đúng bốn quan tiền - gấp bốn lần giá một con ba ba tương tự. Hải thản nhiên móc túi lấy tiền, không một lời kỳ kèo, rồi mang ba ba về nhà, lòng vui sướng khôn xiết.

Về nhà, sau khi ăn cơm, Hải đi mua gỗ, mượn cưa đục, đóng cho ba ba một cái "nhà" để ở. "Nhà" có chỗ uống nước, chỗ cho ăn, chỗ đựng cát để ba ba ẩn nấp.

Do con nhà giàu, Giáp Hải ở trọ hẳn trong một nhà riêng, có chỗ ngủ, học, ăn và bếp nấu nướng. Tuy nhiên, chàng ở một mình, không có người theo hầu. Ở một mình, học hành nghiêm túc hơn nhưng buồn vì không có bạn bầu trò chuyện. Có ba ba, hàng ngày cho ăn, ngắm nhìn, cũng là cách để Giáp Hải giải khuây.

Nào ngờ, chỉ một ngày sau, khi Hải đi học về, mở khoá đẩy cửa bước vào, thấy ở bàn ăn một mâm cơm tươm tất. Lạ lùng, Hải nhìn quanh, đồ đạc nguyên vẹn, không thiếu thứ gì. Ổ khoá không có dấu vết lạ. *"Vậy thì cơm canh thịt cá kia ở đâu ra?"* Hải tự hỏi, sục tìm một hồi nhưng chẳng thấy sáng tỏ. Chán nhẽ, đành ngồi ăn vì lúc này cũng đã đói. Cơm chín tới, thức ăn ngon miệng - Hải nếm mỗi thứ một tý, rồi yên tâm ăn hết, nhớ dành lại một phần cho ba ba.

Hôm sau, hôm sau nữa, khi đi học về, Hải đều thấy như vậy. Được ăn uống ngon lành nhưng Hải vẫn nghĩ phải tìm ra manh mối.

Hôm thứ tư, kể từ hôm đầu, Hải đến lớp được một lúc thì cáo ốm, xin phép thầy cho về sớm. Gần đến cửa, Hải đi rón rén, nấp vào một chỗ, nhìn qua khe hở. Một lát sau, từ chỗ thùng đựng ba ba, hiện ra một người con gái tuyệt đẹp. Cô vấn lại tóc, bước về bếp chuẩn bị cơm nước. Không để lỡ thời cơ, Hải lén mở khoá, đẩy nhanh cửa bước vào, đến chỗ thùng ba ba, cầm xác ba ba cất đi, đoạn bước xuống bếp gặp cô gái.

Hải lên tiếng trước:

- Xin chào quý cô nương. Thật vô cùng cảm kích về cuộc hạnh ngộ này.

Cô gái, thoạt tiên đỏ bừng mặt, lúng túng - chắc do Hải đứng sau cửa nên cô không thể trở về thùng ba ba được - sau đó trấn tĩnh, nói:

- Chào công tử. Thiếp là con gái vua Thuỷ Tề, thường đội lốt ba ba đi chơi, nên chẳng may bị sa lưới. Hôm ấy may có công tử cứu thoát, nên thiếp đội ơn vô cùng. Bây giờ ở lại lo liệu cơm nước là để đền ơn công tử đấy.

Hải vội chắp tay vái hai vái:

- Xin đa tạ. Đa tạ. Tôi là Giáp Hải, người trần mắt tục, được hưởng lộc mà bây giờ mới biết tới quý nương. Xin quý nương thứ lỗi.

Cô gái cũng vái lại, nói:

- Không dám. Không dám. Tôi phải tạ ơn công tử trước mới phải chứ.

Giáp Hải nói luôn:

- Chẳng giấu gì cô nương, từ dạo ở Kinh Bắc về đây, tôi vẫn phải tự lo liệu cơm nước. Từ nay, nếu cô nương không chê, xin vui lòng ở lại lâu dài, đỡ đần rau cháo có nhau.

Cô gái trả lời:

- Xin công tử an tâm. Được cứu sống là nghĩa trọng, không thể bỏ đi một sớm một chiều. Công tử hãy gắng mà lo đèn sách.

Giáp Hải mừng rỡ vô cùng, chắp tay vái thêm. Cô gái cũng chắp tay vái lại. Sau đó, họ cùng nhau sửa soạn cơm nước.

Từ đó, cuộc sống trôi đi như trong mộng ảo. Ở lớp học xong, Giáp Hải đi thẳng về nhà, tiện chợ mua sắm, không còn dềnh dàng như hồi trước. Theo lẽ tự nhiên, trai tài gái sắc, bên nhau, chẳng cần mai mối, họ nhanh chóng nên duyên vợ chồng. Là những con người hiểu phép tắc, trước khi thành thân, họ sắm sửa lễ vật, thắp hương, khấn cầu trời đất chứng giám, phù hộ độ trì.

Nhân duyên của họ thật hy hữu, có một không hai, nên không ai hé răng nói với người thứ ba. Họ yêu nhau, sống hạnh phúc trong ngôi nhà trọ bé nhỏ, không ai hay biết. Dần dà, một hôm, cô gái nói với chồng:

- Thiếp vắng nhà đã lâu, chắc phụ vương mẫu hậu nóng lòng mong đợi thiếp lắm. Xin chàng cho thiếp về thăm nhà, nhân thể mời chàng xuống thuỷ cung dạo chơi cho biết.

Giáp Hải đáp:

- Từ lâu ta cũng muốn ra mắt cha mẹ nàng, mới là phải đạo. Nhưng ngặt vì người trần, chưa nghĩ được cách nào xuống thuỷ cung.

Vợ chàng nói:

- Không hề gì. Chàng cứ đưa lốt ba ba cho thiếp, thiếp sẽ dẫn chàng đi.

Giáp Hải băn khoăn:

- Nàng tính. Ta đang luyện văn bài đợi khoa thi. Đi như thế chắc lâu dài, liệu có tiện không?

Vợ đáp:

- Trong triều phụ thiếp cũng có nhiều người đỗ đại khoa. Có Trạng nguyên họ Lương là người uyên bác, đang dạy học cho các hoàng tử. Chàng xuống đó mà theo học thì rất tiện.

Không còn ước muốn gì hơn, Giáp Hải vui mừng khôn xiết. Hôm sau từ biệt thầy bạn, hôm sau nữa, cùng vợ ra mé bờ sông. Cô gái khoác lốt ba ba vào người, thoăn thoắt rẽ nước cho Giáp Hải theo xuống. Chẳng mấy chốc, kinh thành vua Thuỷ Tề hiện ra trước mắt.

Lúc ấy, vua Thuỷ Tề đang thiết triều, thấy con gái trở về, Ngài vô cùng mừng rỡ. Biết Giáp Hải là ân nhân, nhà vua cảm ơn, tiếp đãi trọng thị. Họ không dám nhận nhau là vợ chồng trước mặt vua cha, vì biết việc tự ý lấy vợ là không phải phép. Giáp Hải nhanh trí, ứng đối tự nhiên, mực thước.

Gặp Trạng nguyên họ Lương, Giáp Hải xưng danh, ngỏ ý muốn theo học. Ông quan Trạng niềm nở gật đầu. Vua Thuỷ Tề biết chuyện, rất hài lòng, lập tức sai dọn một căn phòng tĩnh mịch để chàng yên tâm học tập. Cơm nước có thị nữ bưng đến, vật dụng cần thiết đều có sẵn.

Dần dà, mấy năm trời, Giáp Hải miệt mài học tập. Sách vở đầy ắp thư viện. Ông thầy giảng giải tận tình, kiến thức chàng càng mở mang, trí óc sáng suốt, văn tài uyển súc. Ở chốn cung đình, mọi đường ăn chơi của chàng cũng thật sành điệu.

Một hôm, đang ngồi trong cung, vua Thuỷ Tề bấm độn, biết ở kinh đô nước Nam sắp có kỳ thi Hội. Sáng hôm sau, nhà vua gọi Giáp Hải đến, bảo chàng nếu muốn thi thì hãy chuẩn bị kịp. Giáp Hải dù đã đinh ninh trong bụng, nhưng nghe thấy vẫn cảm thấy bàng hoàng. Chàng trấn tĩnh, đứng dậy cảm tạ, xin cáo biệt.

Ngày hôm sau, vua Thuỷ Tề đặt đại tiệc tiễn đưa. Phút chia tay vô cùng cảm động. Chàng và nàng nhìn nhau nước mắt lưng tròng, chẳng tiện nói ra. Nhà vua cấp cho chàng tư trang, vàng bạc, châu báu, cùng hoàng tộc đại thần tiễn chàng rời cung. Khi ra khỏi cổng thành, một vị trong đoàn tuỳ tùng hoá phép rẽ nước, mở lối rộng rãi cho chàng trở về.

Về đến nhà trọ cũ, Giáp Hải hay tin nhà vua vừa ra chiếu chỉ mở khoa thi Hội mới. Không kịp trở về quê báo tin, chàng vội chuẩn bị lều chõng vào trường ứng thí. Trải đủ bốn lần khảo hạch, bài vở của chàng đều trúng cách, lời văn trau chuốt, ý tứ sâu xa. Thơ phú như thần tiên giáng bút. Các quan chánh, phó chủ khảo hài lòng, lấy chàng đỗ ngay Hội Nguyên - đầu bảng. Trong năm người thi Đình, chàng lại chiếm ngôi cao nhất - Trạng Nguyên.

Mấy ngày sau, quan tân khoa Trạng Nguyên ngồi võng điều, tàn lọng che, trở về quê vinh qui bái tổ. Từ ngày rời nhà ra đi đến nay vừa đúng mười năm, Giáp Hải đang 33 tuổi.

Ông bố họ Giáp, lúc này ngoại 70. Nghe tin con rời nhà trọ ra đi không biết đi đâu, ông cho người tìm khắp nơi nhưng vô ích. Trong thâm tâm, ông đinh ninh con gặp nạn hoặc phẫn chí từ bỏ mình. Ông rầu rĩ, đêm ngày tự than khóc số phận hẩm hiu.

Tưởng tuyệt đường hy vọng, nay bỗng thấy sai nha báo trước, đúng họ, đúng tên, đúng tuổi, đúng quê quán. Ông mừng mừng rỡ rỡ, như người chết sống lại, vội sai người quét tước, sửa sang nhà cửa, mổ lợn bò, mua của ngon vật lạ đón quan Trạng Nguyên, khao vọng chức sắc.

Nhưng rủi thay, dân chúng trong huyện đang bận rộn cày đất vỡ đất trồng khoai. Lệnh từ phủ huyện phải cử đinh tráng khỏe mạnh đi võng giá, mọi người tập trung ở trạm nghỉ đón rước. Trời nóng bức, ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Sự vẻ vang của một người luôn đi kèm nỗi khổ của bao người khác. Dân chúng đi đón rước, chẳng mấy ai không bực tức thầm trong bụng. Nỗi bực tức cộng hồ nghi, soi mói vào nguồn gốc quan Trạng. Lính tráng nghe lọt, có người bẩm báo tới tai Giáp Hải.

Đành ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoài mặt tươi cười, nhưng trong bụng Giáp Hải đinh ninh sẽ điều tra cho ra nhẽ.

Sau lễ vinh qui, Giáp Hải trở lại kinh đô nhận quan chức. Bước khởi đầu là ngạch thanh tra - thay mặt triều đình đi các nơi tìm hiểu, tra cứu việc. Cầu được ước thấy, sau một tuần nghỉ ngơi, chàng lên đường làm nhiệm vụ.

Sau mấy tháng đi các nơi, Giáp Hải xin nhà vua trở về Kinh Bắc, định bụng điều tra nội vụ bản thân. Chàng cất mũ áo ở công quán, cùng một lính thân tín, ăn mặc giả làm dân thường, như hai người bạn đi làm ăn xa. Hai người đến thẳng khúc đê có quán nước ở làng Công Luận. Trong óc, Giáp Hải vẫn lờ mờ nhớ hồi bé mình có mẹ và có quán nước ở đây. Những lời soi mói khi vinh qui càng củng cố điều con lờ mờ nhớ ấy.

Thực may, quán nước vẫn còn nguyên chỗ cũ. Bà hàng bây giờ đã là bà lão ngót nghét 80, lưng còng, tay chân khẳng khiu như que củi, đi lại vất vả, côi cút một thân một mình. Giáp Hải chạnh lòng.

Hỏi han, bà lão cho biết trước kia sinh được một mụn con trai, nếu còn đã ngoài 30 tuổi. *"Năm ấy, thằng bé 3, 4 tuổi, không rõ bị rơi xuống sông nước cuốn đi, hay là bị mẹ mìn bắt cóc"* - vừa nói, bà vừa sụt sịt, xong bỗng oà lên khóc nức nở.

Giáp Hải nhìn nghe, thấy có gì đó cứa vào tim mình. Tuy vậy, không lộ tình cảm, chàng nói:

- Nay nhân qua đây, thấy cụ già cả, lam lũ, đêm ngày không con cháu trông cậy đỡ đần... nên chúng tôi động lòng thương. Chẳng dám dấu gì cụ, nhà chúng tôi cũng có bát ăn bát để, muốn mời cụ về ở cho đỡ hiu quạnh tuổi già. Nhưng chẳng biết cụ có vui lòng không?...

Ý Giáp Hải là dẫu bán tín bán nghi, hãy cứ đưa bà cụ về nhà cái đã, sau này tìm hiểu thêm. Nếu đúng, mẹ con gặp nhau; nếu không, cũng coi như việc làm phúc.

Còn bà lão, tuổi cao sức yếu, không biết nương tựa vào đâu, nghe thế vô cùng mừng rỡ, chẳng ước muốn nào hơn. Bà nhận lời, thu dọn quần áo, đồ đạc theo Giáp Hải về nhà.

Từ công sở Kinh Bắc, Giáp Hải đưa thẳng bà lão về Kinh Đô, ở trong tư dinh của mình. Tại đây, bà lão được chăm sóc chu đáo, có một người hầu gái luôn ở bên cạnh. Ý Giáp Hải là dần dần người hầu gái này sẽ nắm được bí mật, bẩm báo lên. Quả nhiên, về sau chứng minh Giáp Hải đã tính toán không lầm.

Số là một hôm, Giáp Hải được bẩm báo: Bà lão lại khóc tức tưởi, an ủi dỗ dành mãi không được. Thấy sự việc khác thường, Giáp Hải theo người hầu vào phòng, thấy bà vẫn đang khóc. Hơn nữa, khi Giáp Hải đến, bà lại khóc to và thống thiết hơn. Chờ khi cơn khóc nguôi, Giáp Hải lên tiếng hỏi:

- Chẳng hay từ bấy đến nay có điều gì người nhà làm cụ phật ý, xin cụ cứ nói để tôi còn bảo họ.

Nghe thế, bà lão vội vã lắc đầu:

- Bẩm quan lớn (về nhà Giáp Hải bà đã biết đây là nhà quan). Không phải như vậy. Tôi khóc chỉ vì tủi thân, cầm lòng chẳng được. Nếu đứa con tôi mà còn, thì bây giờ cũng 33 tuổi như quan lớn, lại có nốt ruồi đỏ ở chân trái, cũng như quan lớn.

Giáp Hải chột dạ: Chàng 33 tuổi, có một nốt ruồi đỏ to ở chân trái thật, và "đặc điểm" này thì từ người trong nhà đến bạn bè thân hữu, ai cũng biết. Có người còn bảo đấy là "ấn" Trạng Nguyên Ngọc Hoàng Thượng đế ban cho - nhưng chàng chẳng tin.

Giả vờ không nghe rõ, Giáp Hải chỉ an ủi: *"Thôi cụ ạ. Có gì mà cụ phải tủi thân đâu"* - rồi rời khỏi phòng, ra hiệu cho người hầu gái đi theo.

Khi ở trong phòng chàng, Giáp Hải hỏi ngay:

- Tại sao bà cụ biết ta 33 tuổi và có nốt ruồi đỏ ở chân trái?

Người hầu gái thưa thực:

- Dạ, bẩm quan Trạng. Mấy hôm nay tôi thấy bà cụ thường hay lẩm nhẩm tính toán, rồi hỏi tôi tuổi quan Trạng bao nhiêu và ở chân trái có nốt ruồi đỏ không? Tôi đã trả lời bà cụ, nhưng tại sao hôm nay bà cụ mới khóc thì tôi không hiểu?

Giáp Hải bảo: *"Được!"*, rồi cho người hầu phòng lui ra. Ở lại một mình, chàng nghĩ: *"Chính cụ đã nhận ra ta là con của cụ rồi"*.

Hôm sau, Giáp Hải cho người về quê mời ông bố lên kinh - bước cuối cùng trong kế hoạch mấy tháng nay của chàng.

Sau vài ngày để ông bố nghỉ ngơi, chàng mời "bà lão" và "ông lão" đến phòng. Chàng nói:

- Chẳng giấu gì hai cụ. Bấy lâu nay con thường băn khoăn về nguồn gốc xuất thân. Người ta danh phận là danh phận với làng với nước, chứ có ai danh phận với cả bố mẹ đã sinh ra và nuôi nấng mình? Hôm nay có điều gì uẩn khúc, xin các cụ nói thật với con...

Giáp Hải vừa dứt lời, "bà lão" oà lên khóc, "ông lão" thì bần thần, lộ rõ nét mặt...

Thực tình mà nói, ông bố họ Giáp cũng đã định nói nguồn gốc từ lâu, nhưng chưa biết nói thế nào và vào dịp nào. Nghe Giáp Hải nói, lại nhìn thấy "bà mẹ đẻ" - ông đoán như vậy - nên ôn tồn thuật lại các việc từ đầu, không bỏ sót hoặc dấu diếm điều gì.

Trong khi ông bố nuôi (bây giờ đã rõ là bố nuôi) kể, bà mẹ đẻ cũng thôi khóc, lắng tai nghe. Bằng linh cảm, bà nhận ra Giáp Hải là con, từ khi bà về dinh quan Trạng. Sau khi biết tuổi tác, nốt ruồi của con, lại nghe những lời từ chính miệng "ông bố bắt cóc con" nói ra, bà hiểu niềm tin của bà đã thành sự thật. Bà kể tiếp những đoạn mà từ trước đến nay chỉ có một mình bà biết, cho Giáp Hải và ông bố nuôi cùng nghe.

Giáp Hải vừa nghe vừa bàng hoàng. Khi bà cụ dứt lời, chàng oà lên khóc nức nở. Chàng nói với bố mẹ, giọng lẫn trong nước mắt:

- Người ta ở đời, mỗi người mỗi hoàn cảnh. Con là con đẻ của mẹ, là con nuôi của bố. Dù công sinh thành hay công dưỡng dục, thì cả hai cũng đều sâu nặng. Xin có trời đất chứng giám: từ nay con sẽ được toại nguyện để lo làm tròn bổn phận của mình...

Cuộc đời làm quan của Giáp Hải từ đấy thăng tiến dần. Mẹ đẻ và bố nuôi già yếu rồi nối nhau, lần lượt qua đời. Chàng lo chăm sóc khi sống và ma chay khi chết, đều thật chu đáo.

Trải qua nhiều năm, đến năm nhà nước mở khóa thi Hương, Giáp Hải được bổ làm Chánh Chủ khảo trường thi Sơn Nam. Chánh chủ khảo trực tiếp ra đề thi của cả bốn kỳ, lại chấm phúc khảo, lấy đỗ. Trách nhiệm nặng nề, nếu làm đúng - nghĩa là chọn người có thực tài, chứ không gian lận hay may rủi. Nghĩ mình từ lúc đi học đến lúc đỗ Trạng Nguyên phải mất 28 năm miệt mài đèn sách, Giáp Hải đã ra những đầu bài thi thật khó, ý định chỉ lấy đỗ những người có thực học. Quan niệm ấy đúng, nhưng không đúng với thực trạng học hành của đại đa số sĩ tử thời bấy giờ.

Đại đa số sĩ tử lúc ấy học rất chiếu lệ, khuôn sáo, không chịu nghiền ngẫm nghĩa lý sâu xa. Chỉ mới đọc xong đầu bài kỳ thứ nhất, họ đã nhao nhao phản đối: *"Nếu quan Chánh Chủ khảo không ra đề thi lại, chúng tôi sẽ phá trường thi."*

Không thể đem binh lính đi bắt hết các sĩ tử nổi loạn, cũng không thể tự ý bãi miễn cuộc thi, Giáp Hải đành nhượng bộ. Nhưng trong khi các sĩ tử làm bài, Giáp Hải cho người đi dò xét, rồi cuối cùng cũng bắt được kẻ chủ mưu. Quan Chánh Chủ khảo lập án, khép người này vào trọng tội, lĩnh hình phạt tử hình.

Rủi thay, phạm nhân lại là con một. Cha mẹ vào gặp Giáp Hải, khóc lóc van xin thế nào cũng không được giảm án.

Giáp Hải cũng có một con trai, năm ấy 18 tuổi, tên Giáp Phong. Khi người sĩ tử kia thụ án được mấy ngày, thì Giáp Phong cũng bị cảm mạo bất ngờ, rồi chết đột ngột.

Đối với Giáp Hải, việc mất con như thế cũng là mất cả niềm hy vọng, nên ông thương xót vô cùng, biếng ăn mất ngủ, vật vã có đến cả tháng trời. Tuy là người học hành nhiều, đỗ cao, chẳng tin chuyện đồng cốt, nhưng vì nỗi đau quá lớn, nên Giáp Hải cũng cho mời thầy phù thủy về nhà cúng bái, làm phép đánh đồng thiếp, để linh hồn mình xuống âm phủ gặp con.

Ông thầy đặt lễ, cầu khấn, làm phép, đọc thần chú, bắt quyết... còn Giáp Hải thì ngồi đồng. Một lúc sau, thấy Giáp Hải "đảo", hai mắt lờ đờ, trợn ngược, nằm vật xuống - ấy là lúc ông thấy người mụ mị, trời đất tối sầm, toàn thân nhẹ bẫng, như đang bay đi đến tận đâu đó...

Linh hồn Giáp Hải bay mãi, bay mãi..., cuối cùng "đỗ" xuống, và trước mặt là một ngôi lầu ngũ giác, sơn son thiếp vàng. Linh hồn Giáp Hải nhìn vào phía trong, vì ngôi lầu cửa mở toang, thấy kẻ hầu người hạ đi lại tấp nập, còn ở trên chiếc sập kê chính giữa, lại có hai người trai trẻ đang ngồi đánh cờ. Linh hồn Giáp Hải mừng quýnh, vì nhận ra một trong hai người đích thị là Giáp Phong.

Linh hồn Giáp Hải định bước vào, nhưng vừa bước đến cửa đã bị hai lính hầu cản lại. May mà hai người lính chỉ cản chứ không đuổi, nên linh hồn Giáp Hải rón rén đứng nép vào một bên. Một lát sau, đánh bạo, linh hồn Giáp Hải nhờ một người lính vào bẩm báo với Giáp Phong. Lạ thay - linh hồn Giáp Hải vẫn nhìn thấy - khi người lính ghé sát nói vào tai, thì Giáp Phong vẫn thản nhiên đánh cờ, không thèm để ý gì đến lời nói của người lính.

Đến khi hết ván cờ, Giáp Phong và người kia đứng lên, cùng bước ra ngoài phòng. Khi ngang qua chỗ linh hồn Giáp Hải đứng, Giáp Phong cũng không dừng lại, mặc dù mắt đã nhìn thấy. Linh hồn Giáp Hải lại còn nghe rõ cả tiếng của người kia hỏi Giáp Phong:

- Thế tiên huynh không quen biết cả người này à?

- Có - Tiếng Giáp Phong trả lời. - Tôi quen ông ta từ 18 năm nay, nhưng rốt cục, vẫn chỉ như người xa lạ...

- Vì sao như thế? - tiếng người kia lại hỏi.

- Có gì đâu - Tiếng Giáp Phong trả lời. - Chả là vì ông ta đã lạm sát mất một mạng người....

Nghe thấy thế, linh hồn Giáp Hải bỗng thấy choáng váng, rồi loạng choạng, ngã vật xuống - và chính lúc ấy, Giáp Hải thật đã tỉnh lại, dứt hẳn cơn nhập đồng.

Từ đấy trở đi, Giáp Hải ăn năn hối lỗi. Dù ở công đường hay trong đời thường, bao giờ ông cũng tỏ ra bao dung, độ lượng hơn người. Sau lần nhập đồng, việc đầu tiên của ông là mời cha mẹ của người tử tù ngày trước lại, an ủi và chu cấp tiền bạc để về sửa lễ, cầu cúng cho linh hồn anh ta được siêu sinh tịnh độ.

Khi mãn cuộc đời làm quan, Giáp Hải về quê điền viên, vui hưởng tuổi già. Ông được người đời truyền tụng là một vị quan thanh liêm, chính trực.