Chương 1:
Tập 1: Truyện cổ tích Tấm Cám
Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng quê thanh bình, có hai chị em cùng cha khác mẹ. Người chị cả tên là Tấm, còn người em út tên là Cám. Số phận thật bất công khi mẹ Tấm mất sớm, chỉ vài năm sau, cha Tấm cũng ra đi mãi mãi. Tấm trở thành cô bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống nhờ vào lòng dạ cay nghiệt của dì ghẻ – chính là mẹ của Cám.
Người dì ghẻ ấy vốn dĩ độc ác, luôn hắt hủi Tấm. Bà ta bắt Tấm phải làm lụng quần quật từ việc nhà nặng nhọc đến việc đồng áng, chăn trâu cắt cỏ. Trong khi đó, Cám lại được nuông chiều, ăn sung mặc sướng, chẳng bao giờ động tay vào việc gì.
Một hôm, mùa nước nổi vừa qua, người dì ghẻ gọi hai chị em lại, trao cho mỗi đứa một cái giỏ, bảo ra đồng xúc tép. Bà ta hứa hẹn đầy vẻ dụ dỗ:
– Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì ta sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ.
Tấm là người chăm chỉ, siêng năng, nên cô bé tất mụchắn hớt từng con tép nhỏ bỏ vào giỏ. Chốc lát sau, giỏ của Tấm đã đầy ắp. Còn Cám thì mải mê bấu véo bèo, nghịch nước, chẳng mấy chốc giỏ của em vẫn trơ trọi không gì.
Nhìn thấy Tấm có cả một giỏ tép đầy ắp, lòng ganh ghét trỗi dậy, Cám liền nịnh nọt:
– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.
Tấm cả tin nghĩ rằng dì ghẻ đang lo cho đầu tóc mình, bèn xuống ao lội ra chỗ sâu để tắm rửa. Nhân cơ hội đó, Cám trút sạch hết số tép trong giỏ của Tấm vào giỏ mình, rồi ba chân bốn cẳng chạy về nhà trước.
Khi Tấm bước lên bờ, nhìn thấy giỏ mình chỉ còn trống rỗng, cô bé bưng mặt khóc hu hu vì tủi phận. Tiếng khóc thương tâm thấu đến trời xanh, Bụt tiên ông liền hiện lên, ân cần hỏi:
– Tại sao con lại khóc?
Tấm kể lại đầu đuôi sự việc. Bụt bảo:
– Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào giỏ xem, còn sót lại gì không?
Tấm mò mẫm trong giỏ, ngạc nhiên nói:
– Chỉ còn một con cá bống.
Bụt mỉm cười bảo:
– Con hãy mang con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Hàng ngày, đáng ăn ba bát thì con ăn hai, còn một bát con hãy thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn, con nhớ gọi như thế này:
*Bống bống bang bang*
*Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta*
*Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.*
Nếu không gọi đúng lời này thì nó sẽ không lên. Con nhớ kỹ lấy!
Nói xong, Bụt biến mất. Tấm vâng lời, thả bống xuống giếng. Từ đó, mỗi bữa ăn, Tấm đều giấu bớt một bát cơm, mang ra giếng gọi bống. Nghe tiếng gọi thân thương: “Bống bống bang bang”, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm Tấm ném xuống. Người và cá ngày càng thân thiết, và bống lớn lên trông thấy.
Thấy Tấm cứ chiều chiều mang cơm ra giếng, người dì ghẻ sinh nghi. Bà ta bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây gần bờ giếng, nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm đi nhẩm lại cho thuộc lòng. Tối hôm ấy, mụ dì ghẻ giả vờ ngọt ngào bảo Tấm:
– Con ơi, làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, kẻo làng bắt mất trâu.
Tấm tin lời, sáng hôm sau dắt trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám liền mang bát cơm ra giếng, giả giọng Tấm gọi: “Bống bống bang bang…”. Nghe tiếng gọi quen thuộc, bống ngoi lên. Mụ dì ghẻ chực sẵn, bắt lấy bống, đem về nhà làm thịt.
Chiều hôm ấy, Tấm dắt trâu về. Sau khi ăn cơm xong, cô mang bát cơm để dành ra giếng gọi bống. Nhưng lần này, gọi mãi gọi mãi, chẳng thấy bống ngoi lên. Chỉ thấy một cục máu đỏ nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành, Tấm òa lên khóc nức nở. Bụt lại hiện lên, nhẹ nhàng hỏi:
– Con làm sao lại khóc?
Tấm kể lại sự tình. Bụt thở dài bảo:
– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Con hãy về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.
Tấm trở về, đi tìm xương bống khắp các xó vườn, góc sân mà không thấy đâu. Một con gà trống thấy thế, liền cất tiếng:
– Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bươi xương cho!
Tấm bèn bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bươi một lúc thì thấy những chiếc xương trắng. Tấm khéo léo nhặt lấy bỏ vào lọ, sau đó đem chôn dưới chân giường như lời Bụt dặn.
Ít lâu sau, nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bảy dập dìu tuôn về kinh đô như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội.
Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, rồi lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, quát mắng:
– Khi nào nhặt riêng gạo và thóc ra hai đấu thì mới được đi xem hội.
Nói đoạn, hai mẹ con xúng xính quần áo, lên đường. Tấm tủi thân ngồi bên đống hỗn độn ấy, òa lên khóc. Bụt lại hiện lên, hỏi:
– Làm sao con khóc?
Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:
– Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội. Lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi, còn gì mà xem.
Bụt bảo:
– Con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.
Tấm lo lắng:
– Nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.
Bụt an ủi:
– Con cứ bảo chúng nó thế này:
*Rặt rặt (con chim sẻ) xuống nhặt cho tao*
*Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết*
Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.
Bụt vừa dứt lời, từ trên không trung, một đàn chim sẻ đáp xuống sân. Chúng lăng xăng, ríu rít, nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo. Chỉ trong chốc lát, mọi việc đã xong, không suy suyển một hạt.
Nhưng khi chim sẻ bay đi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại hỏi:
– Con làm sao lại khóc?
– Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.
Bụt bảo:
– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên, thì sẽ có đủ thứ cho con trẩy hội.
Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất, lấy ra một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai, lấy ra một đôi hài thêu. Đào lọ thứ ba, thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất, bỗng chốc nó hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đến lọ cuối cùng, lấy ra một bộ yên cương xinh xắn.
Tấm mừng quá, vội tắm rửa, thay bộ quần áo mới đẹp đẽ, thắng bộ vào, rồi cưỡi lên ngựa. Ngựa phi nước đại một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua một cây cầu đá, gió mạnh làm Tấm đánh rơi một chiếc hài xuống nước, không cách nào mò lên được.
Khi đoàn xa giá chở vua đi qua cầu, con voi ngự bỗng nhiên cắm ngà xuống đất, kêu rống lên, không chịu đi. Vua sai quân lính xuống nước thử tìm xem, họ mò được một chiếc hài thêu rất tinh xảo và xinh đẹp. Vua ngắm nghía chiếc hài hồi lâu, rồi hạ lệnh cho rao mời tất cả đám đàn bà con gái xem hội ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giầy thì vua sẽ lấy làm vợ.
Đám hội càng náo nhiệt hơn vì các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử hài. Cô nào cũng lần lượt kéo vào ngôi lầu giữa bãi cỏ rộng để ướm một tí cầu may. Nhưng chẳng có một chân nào đi vừa cả. Mẹ con Cám cũng trong số đó. Khi Cám và dì ghẻ bước ra khỏi lầu thì gặp Tấm, Cám mách mẹ:
– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử hài đấy!
Mụ dì ghẻ bĩu môi:
– Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!
Nhưng khi Tấm đặt chân vào chiếc hài, nó vừa như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc hài giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tỳ nữ rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu, để lại sau lưng những ánh mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.
Tuy sống sung sướng trong hoàng cung, Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn cỗ cúng giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm sung sướng thì ghen ghét để bụng. Nay thấy Tấm về, lòng ghen ghét lại bùng nổ. Nghĩ ra được một mưu đen tối, mụ dì ghẻ bảo Tấm:
– Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo lên xé lấy một buồng cau để cúng bố.
Tấm vâng lời trèo lên cây cau. Lúc lên đến sát buồng thì ở dưới này, mụ dì ghẻ cầm dao đẵn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi:
– Dì làm gì dưới gốc thế?
– Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con.
Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội vàng lột áo quần của Tấm cho con mình mặc vào cung, nói dối với vua rằng Tấm không may bị rơi xuống ao chết đuối, nay đưa em vào để thế chị. Vua nghe nói trong bụng không vui, nhưng không biết phải làm thế nào cả.
Lại nói chuyện Tấm chết hóa thành chim Vàng Anh. Chim bay một mạch về kinh đến vườn ngự. Thấy Cám đang giặt áo cho vua ở giếng, Vàng Anh dừng lại trên cành cây, cất tiếng hót:
– Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.
Rồi chim Vàng Anh bay thẳng vào cung, đậu ở cửa sổ, hót lên rất vui tai. Vua đi đâu, chim bay đến đó. Vua đang nhớ Tấm không nguôi, thấy chim quyến luyến theo mình, vua bảo:
– Vàng anh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.
Chim Vàng Anh bay lại đậu vào tay vua rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý Vàng Anh quên cả ăn ngủ. Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không tưởng đến Cám.
Cám vội về mách mẹ. Mẹ nó bảo:
– Cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua.
Trở lại cung vua, nhân lúc vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt, nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn. Lông chim Vàng Anh chôn ở vườn hóa ra hai cây xoan đào. Khi vua đi chơi vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây đẹp rợp bóng, sai lính hầu mắc võng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát ở hai cây xoan đào.
Cám biết chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo:
– Cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi kiếm điều nói dối vua.
Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:
– Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.
Nhưng khi khung cửi đóng xong, Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình:
*Cót ca cót két*
*Lấy tranh chồng chị.*
*Chị khoét mắt ra*
Thấy vậy, Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo:
– Đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm.
Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung.
Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Một bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bèn giơ bị ra nói lẩm bẩm:
– Thị ơi thị à, rụng vào bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.
Bà lão nói vừa dứt lời, thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà lão nâng niu đem về nhà cất trong buồng, thỉng thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm.
Ngày nào bà lão cũng đi chợ vắng. Từ trong quả thị chui ra một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay, nhưng chỉ trong chớp mắt đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà hàng nước. Đoạn Tấm lại thu hình bé nhỏ như cũ rồi chui vào quả thị.
Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ. Một hôm, bà hàng nước giả vờ đi chợ. Đến nửa đường, bà lén trở về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong khi đó, Tấm từ quả thị chui ra rồi cũng làm việc như mọi lần. Bà lão rón rén lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm, đoạn xé vụn vỏ thị.
Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.
Một hôm, vua đi chơi ra khỏi hoàng cung, thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền hỏi:
– Trầu này ai tem?
– Trầu này con gái lão tem – bà lão đáp.
– Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.
Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung.
Cám thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa, thì không khỏi ghen tỵ. Một hôm, Cám hỏi chị:
– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế?
Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:
– Có muốn đẹp không để chị giúp?
Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh, gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon.
Một con quạ ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà, kêu rằng:
– Ngon ngỏn ngòn ngon! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.
Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu lâu của con thì kinh hoàng, lăn đùng ra chết.
Và từ đó, Tấm và Vua sống hạnh phúc bên nhau, mãi mãi về sau.